Lời Chúc Phúc Của Odin

Quyển 3 - Chương 2: Khả năng tiềm tàng của quỷ tượng



Không lâu sau, vài Thần tộc mặc trang phục của thợ rèn bước ra từ cửa ngách của thần điện.

“Thật không chịu nổi Magny điện hạ, ta biết Hoder điện hạ cũng đổ lên đầu ngài ấy không ít áp lực, nhưng cứ thích làm khó mấy thợ rèn mới vào nghề như vậy, ngoài việc chứng tỏ ngài ấy là kẻ lòng dạ hẹp hòi ra thì còn tác dụng gì đâu chứ?”

“Các ngươi nhìn Yule kia kìa, mở to mắt ra mà xem chiến thuật của quỷ tượng và thuật rèn chân chính là như thế nào, các ngươi ấy à, cả một cái cọc gỗ cũng không gõ được cho ra hồn”, một người khác cố tình bắt chước giọng điệu của Magny, nghe rất kỳ cục, sau đó hắn không nhịn được mà nói to hơn, “Yule đã là quỷ tượng rồi, chúng ta làm sao mà so được với người ta chứ?”.

“Không biết là ai ném cát sao lên trời khiến cho lão quái vật kia đi mất, nói tóm lại, người đó nhất định sẽ được thánh thần phù hộ!”

Ta cũng có nghe sơ qua chuyện của Magny. Hắn là tên đại quỷ tượng của tộc Aesir, nghe đồn là một Thần tộc rất có tài, nhưng bởi vì cấp bậc quan chức của tộc Aesir và tộc Vanir có sự khác biệt lớn, nên cống hiến của Magny thường bị người ta xem nhẹ.

Người thống trị tối cao của tộc Vanir chính là Pháp vương Balder, nhưng người nắm trong tay quyền lực thực sự lại là Đại thần Tài chính Loki - chức vị thấp hơn Balder một bậc. Trên danh nghĩa, còn có năm chức vụ khác đứng ngang hàng với Loki, đó là Đại thần Quân vụ, Đại thần Hành chính, Đại thần Ngoại giao, Đại học giả và Đại tế ti. Cơ quan đầu não của các thần thợ rèn đặt tại điện Tài Chính, thuộc phạm vi quản lý của Loki. Mà Thánh kỵ sĩ, Quan chỉ huy ánh sáng, Đại ma đạo sư và Đại tế ti lần lượt thuộc về điện Quân Vụ, điện Ngoại Giao, điện Học Giả và điện Tế Ti, tầng lớp lãnh đạo tối cao của mỗi loại chức nghiệp đều khá độc lập, không lệ thuộc lẫn nhau.

Còn ở tộc Aesir, bên dưới Đế vương - người thống trị cao nhất - chỉ có bốn đại thần: Tài chính, Quân vụ, Hành chính và Ngoại giao. Tất cả các chức vụ như Kỵ sĩ đoàn, Quỷ tượng, Thần quan bóng tối và Đại vu sư đều thuộc sự quản lý của Đại thần Quân vụ Hoder. Bản thân Hoder vốn là thủ lĩnh của Kỵ sĩ đoàn; chức vụ thủ lĩnh Thần quan thuộc về Đại thần Phụ chính Thor; người đứng đầu các Đại vu sư chính là lãnh chúa Bóng tối Freyja. So với ba vị chủ thần này, Magny ít nhiều cũng có vài phần kém cạnh.

Cho nên, mấy lời bàn tán về việc Magny áp bức công nhân, các thợ rèn phải ngày đêm làm việc không được ngơi tay, ta cũng đã vài lần nghe được.

Sau khi đứng ở cửa phàn nàn một lúc lâu, đám thợ rèn nọ lại quay lại bên trong thần điện. Bởi tò mò không biết đại quỷ tượng trông tròn méo ra sao, nên ta bước tới gần, nhòm vào qua cửa sổ.

Cung điện này lớn gần bằng nửa quảng trường trung tâm, lúc này chật ních những thợ rèn đang quay cuồng làm việc. Giống như kỵ sĩ, đa số thợ rèn đều là nam giới. Rất nhiều người trong số đó đang lặp đi lặp lại những động tác có phần máy móc, nào là chế tạo vũ khí, nào là khảm đá quý, cũng có nhóm đang lắp ghép những bộ phận của áo giáp lại với nhau. Thế nhưng chẳng hiểu vì sao, khi ta nhìn động tác của những kẻ đó, có một thứ cảm giác vô danh đột ngột trỗi dậy, len lỏi khắp các ngón tay ta.

Vài phút sau, có người ném một thanh đoản kiếm cong cong vẹo vẹo qua cửa sổ. Ta bước tới nhặt nó lên, lật qua lật lại, ngắm nghía một lúc lâu, rồi nói với một gã thợ rèn ngồi bên cửa sổ: “Ta có thể mượn cái búa của ngươi một chút không?”.

Sự xuất hiện đột ngột của ta khiến gã thợ rèn kia một phen hú vía, suýt nữa thì ngã lăn ra đất: “Bà… bà là ai?”.

“Ta làm việc ở phòng May vá, cái kéo của ta hỏng mất rồi, định mượn cái búa gõ vài nhát xem sao.”

Hắn nhìn một vòng đám búa được xếp ngay ngắn theo thứ tự từ nhỏ tới lớn trên bàn, đắn đo một lúc, sau đó rút ra một cái cỡ vừa cho ta.

Ta nhìn cái búa, nói: “Cái này bé quá, lấy cho ta cái búa lục giác Svart cỡ 78 đi”.

Gã thợ rèn lục lọi trong giá đồ một hồi, rồi đưa búa cho ta, vẻ mặt nghi ngờ: “Làm may mà cũng biết búa lục giác Svart cỡ 78 cơ à…”.

Sau khi nắm cây búa trong tay, tự ta cũng thấy quái lạ.

Trong suốt cuộc đời ba nghìn năm trước của ta, ta chưa hề bén mảng tới gần bất kỳ một cái xưởng rèn nào. Theo lý mà nói, đây là lĩnh vực mà ta chưa từng tiếp xúc, vậy tại sao tên loại búa cứ thế được thốt ra khỏi miệng ta, lưu loát như đã nói cả nghìn lần?

Đầu óc ta đăm chiêu suy nghĩ, nhưng tay ta đã tự động vung lên, gõ trái gõ phải, đập trên đập dưới, bắt đầu sửa lại thanh đoản kiếm hỏng kia.

“Trời ơi, lợi hại quá…”

Mãi tới khi gã thợ rèn kinh ngạc thốt lên câu nói đầy thán phục, ta mới giật mình dừng động tác, giương mắt nhìn hắn, lại nhìn thanh đoản kiếm kia… Ta có tài năng này từ lúc nào vậy, sao ta hoàn toàn không hay biết?

“Bà có thật là thợ may không vậy?”, hắn trừng mắt nhìn thanh đoản kiếm trên tay ta, “Dù có là quỷ tượng tài hoa bậc nhất cũng không thể sửa một thanh kiếm hỏng đến cỡ này thành đồ như mới thế được… Vậy mà bà có thể…”, hắn chỉ tay vào thanh kiếm sáng choang.

“Nếu được, để ta giúp ngươi làm một phần công việc nhé”, ta đứng dậy, “Ta cũng đang kinh ngạc lắm đây”.

Ta vừa dứt lời, hắn đã chất một đống lớn lên bệ cửa sổ màu trắng ngà, trong đó có đá quý, nguyên liệu chế tác và cả bản vẽ thiết kế nữa.

Công việc chế tác “trượng gỗ của Durr” bao gồm bảy bước, nhưng ta chỉ cần nhìn bản vẽ một lần, sau đó mất chưa đầy một phút đã đưa lại cho gã thợ rèn một cây trượng gỗ y chang hình trong bản vẽ.

Khi thấy ánh mắt sửng sốt của hắn, trong lòng ta cũng vô cùng bất an.

Đột nhiên có một ý nghĩ lóe lên trong đầu, dường như cô nàng Ena kia là một thần kim tượng rất đỗi tài hoa… Tại sao ký ức về đường đi nước bước nghề rèn cũng như năng lực chế tạo của cô ấy vẫn tồn tại trong ta?

Điểm khác biệt lớn nhất giữa quỷ tượng và thần kim tượng chính là khả năng phát huy tác dụng trên chiến trường. Tuy rằng sau khi ra trận, cả hai đều có thể làm những việc như phụ tá, ném vũ khí, cũng có thể là tiếp viện, nhưng ở tộc Vanir, cảnh giới cao nhất mà một thần kim tượng có thể đạt tới chỉ là trở thành trợ thủ cho đại ma đạo sư; còn ở tộc Aesir, lý tưởng chính của một quỷ tượng lại là “Quỷ tượng tài giỏi có thể rèn ra bất kỳ loại vũ khí nào mà chiến sĩ cần, đồng thời có thể tung hoành giết địch không chút nương tay”. Dù vậy, xét trên phương diện chế tạo vũ khí, quỷ tượng và thần kim tượng lại không khác nhau là mấy.

Thế nên, nếu chỉ nhìn vào cây trượng gỗ ta chế tác ra kia thì chẳng ai có thể khẳng định được nó ra đời từ tay của một quỷ tượng hay thần kim tượng.

Gã thợ rèn kia mừng rỡ như điên, cầm cây trượng gỗ xoay tới xoay lui, ngắm nghía mãi không buông, còn ta thì tiếp tục nhìn vào bản thiết kế, rèn ra những thứ vũ khí khác với tốc độ chóng mặt, mãi tới khi Magny bước vào trong phòng.

Magny là một lão già có thân hình cao lớn, tuy mái tóc đã bạc phơ, nhưng cơ thể vẫn vô cùng cường tráng. Lão mặc trên người chiếc áo khoác dài màu đen chấm đất của đại quỷ tượng, mái tóc bạc xõa tung, buông xuống nền đen của áo, tựa như những đợt tuyết đầu mùa.

Theo sát sau lưng Magny là một cô gái có mái tóc tím. Màu da của tộc Aesir vốn đã trắng, làn da của nàng lại càng trắng đến tột cùng, gần như trong suốt. Bởi mắt nàng màu tím, gương mặt tuyệt đẹp nhưng lại lạnh lùng, nên nàng có chút gì đó không giống như người đang sống, mà tựa như một bức tượng nữ thần tuyệt mỹ được tạc ra từ một khối ngọc trắng ngần và những viên pha lê màu tím. Từ mấy lời xì xào bàn tán của những người xung quanh, ta mới biết, thì ra cô gái này chính là Yule - quỷ tượng trẻ tuổi mà Magny vẫn rất coi trọng.

Yule mặc trên người bộ váy dài tới gót chân của quỷ tượng, tà váy xẻ tới ngang đùi, bởi vậy mỗi khi nàng cất bước, làn váy khẽ đong đưa, để lộ ra đôi chân dài thanh mảnh, cùng gót giày cao nhọn.

Hai người rảo bước trên tấm thảm trải sàn cực kỳ sang trọng, ánh mắt của Magny tựa ngọn gió vô hình mà sắc bén quét qua đám thợ rèn trong phòng, đồng thời không bỏ sót những dụng cụ đặt trên chiếc bàn trước mặt từng người.

Khi cả hai bước tới gần cửa sổ, ta vội vàng cúi người xuống, áp sát vào tường, từ từ khuỵu gối.

Ta không nghe thấy tiếng bước chân rời đi chỗ khác. Ta vốn tưởng tai mình lại đến lúc có vấn đề rồi, nhưng ta còn chưa kịp đứng lên, đã thấy Magny thong thả cất lời:

“Ouya, những thứ này do ai làm?”

Gã thợ rèn ban nãy nói chuyện với ta lắp ba lắp bắp trả lời: “Là ta… ta tự rèn ra”.

“Không phải do ngươi làm.”

Sau một khoảng lặng dài dằng dặc, Magny lên tiếng, trong thanh âm như có một áp lực vô hình, “Ma trượng cỡ này thì đến cả quỷ tượng thông thường cũng không tài nào làm được… Nói, do ai làm?”.

“Ta, ta không biết.”

“Yule, là con phải không?”, giọng nói của Magny dịu đi đôi chút.

“Không ạ”, Yule trầm ngâm một chút, “Điện hạ, trên cây ma trượng này có thần lực, tuy rằng chỉ một chút thôi”.

Có thần lực?

Chỉ có chủ thần mới đủ khả năng đem thần lực thổi vào vũ khí. Có điều, bức tượng của ta rõ ràng chưa hề xuất hiện tại Asgard cơ mà…

Magny đột nhiên cao giọng: “Sao có thể thế được? Tất cả các chủ thần ở Asgard đều không có khả năng rèn vũ khí…”.

Yule nói: “Chẳng lẽ nữ thần Thu hoạch đã thức tỉnh rồi?”.

Lại một khoảng lặng trôi qua. Magny nói: “Ouya, nếu ngươi vẫn không chịu nói, cứ cho là ngươi cố ý giấu giếm tin tức chủ thần thức tỉnh, nhưng đến lúc lộ ra, e rằng hậu quả không chỉ đơn giản là mất việc thôi đâu”.

Ouya run rẩy: “Không biết… tôi thật sự không biết gì mà. Vừa nãy có một bà già đứng bên cửa sổ mượn tôi một cái búa, tôi cho bà ấy mượn, sau đó bà ấy nói muốn giúp tôi làm việc…”.

Hắn nói vừa nhanh vừa gấp, thế nên khi Magny đột nhiên quét mắt ra ngoài cửa sổ, ta vẫn chưa kịp trốn đi.

“Ta từng gặp ngươi rồi.” Bốn mắt chạm nhau một lúc, lão mới chậm rãi gằn từng chữ một: “Ngươi chính là người mà ngày đó Loki muốn dẫn đi…”.

Hắn còn chưa nói hết câu, ta đã vội vàng xoay người định chạy, nhưng ta mới bước được hai bước, một tia sáng bạc đã lóe lên ngay trước mặt.

Yule đứng chắn ngay phía trước, trong tay cầm một thanh đoản kiếm.

“Magny điện hạ còn chưa nói xong, ngươi muốn đi đâu?”

Con mắt màu tím của nàng ta không hề có chút cảm xúc nào, lạnh lẽo như băng.

Đám thợ rèn trong phòng đã vứt hết công cụ trong tay xuống, lục tục đứng lên, giương mắt nhìn ra phía ngoài.

Magny di chuyển ra bên ngoài cửa sổ: “Những thứ vũ khí kia là do ngươi làm?”.

Ta quay đầu nhìn Ouya đang run lẩy bẩy bên trong, cân nhắc một lúc lâu mới nói: “… Đúng”.

“Bệ hạ biết ngươi có thần lực không?”

“Ta không có thần lực.”

Magny hướng tay về phía cửa sổ, vẫy một cái, mấy cây ma trượng trên chiếc bàn gần đó lập tức bay lên, lao vào trong tay lão. Sau đó, lão lẩm bẩm câu thần chú nghiệm chứng với mấy thứ vũ khí kia, ngay lập tức, một quầng sáng vàng lộng lẫy vây lấy những thứ ta mới làm ra.

Lão chẳng thèm giải thích lấy một lời, lập tức hỏi lại: “Bệ hạ biết ngươi có thần lực không?”.

Ta cau mày nhìn hắn, thấp giọng nói: “Chuyện này không liên quan gì đến Magny điện hạ. Ta xin phép đi trước”. Sau khi nói xong, ta lập tức di chuyển lên không trung.

Nhưng chỉ chớp mắt sau ta đã bị Yule ném xuống.

“Yule, trông chừng bà ta. Ta sẽ quay lại ngay.”

Tiếng của Mangy càng lúc càng xa, dường như lão đang vội vàng chạy đi đâu đó.

Chết tiệt, chắc chắn lão đi tìm Odin rồi.

Ta nhìn thẳng vào đôi mắt màu tím của Yule, rồi di chuyển tức thời ra sau lưng nàng ta. Ngặt nỗi, nàng ta cứ như một cỗ máy hoàn hảo, không hề mắc lừa, lập tức di chuyển ra sau, chắn trước mặt ta.

Chúng ta cứ giằng co như vậy đến gần hai mươi phút, mãi tới khi Magny quay trở lại. Cùng lúc đó, Yule túm lấy tay ta, ném tới trước mặt lão.

“Bệ hạ nói muốn gặp ngươi”, Magny nói.

Nhất thời não bộ của ta như mất đi khả năng tư duy, ngay cả từng đốt ngón tay cũng không còn linh hoạt, giống như mối nối bị khô dầu. Ta nghe thấy giọng nói khô khốc của mình thoát khỏi cổ họng: “Lúc này đã muộn lắm rồi, ta không muốn làm phiền bệ hạ, để ngày mai… được không?”.

Xuất hiện trước mặt chàng trong bộ dạng thế này… ta không làm được.

Nhưng một khắc sau, dù phản kháng thế nào ta vẫn bị lôi đến tận cung điện Vàng, trước cửa tẩm cung của Odin. Ta chỉ còn nghe thấy tiếng nói của Magny vang lên bên cạnh, dường như lão đang thông báo với người ở trong, rằng đã dẫn người tới rồi. Sau đó, là một thanh âm vô cùng quen thuộc: “Vào cả đi”.

Cánh cửa lớn mở ra.

Trong khoảnh khắc ấy, hơi thở của ta như bị ai cướp mất.

Trừ bình hoa đặt trên bàn và hoa văn trên tấm nệm giường, căn phòng ngủ này vẫn y nguyên như thuở trước, không hề thay đổi. Vẫn là những đồ trang trí với hai màu chủ đạo là trắng và vàng, tao nhã mà thoải mái, hai gam màu tôn nhau thành vẻ huy hoàng khó tả.

Odin ngồi trước bàn, dáng vẻ vẹn nguyên như những ngày xưa cũ, bờ mi khẽ nhíu khi vùi đầu vào công việc, sống mũi cao thẳng, đường nét gương mặt sắc sảo mà tinh tế. Một lúc lâu sau, chàng mới chậm rãi rời mắt ra khỏi đám tài liệu, nhìn chúng ta.

“Các ngươi nhầm rồi. Nữ thần Thu hoạch đang ở tộc Vanir”, sau đó chàng nhìn về phía cửa, “Còn vị phu nhân này, để bà ấy ở lại đây một chút”.

Magny và Yule cùng dạ một tiếng, rồi đồng loạt lui ra.

Cánh cửa lớn đóng lại phát ra thứ âm thanh nặng trĩu.

Odin cuối cùng cũng ngẩng đầu, nhìn thẳng vào ta. Chàng trầm tư một lúc lâu, như đắn đo phải nói thế nào cho phải: “Ta nghĩ nguyên nhân lớn nhất khiến cô chưa thể thức hình hoàn toàn, là vì cô đã trưởng thành tại tộc Vanir”.

Ta sững sờ trong giây lát, kinh ngạc nhìn chàng: “Ngài biết tôi là ai?”.

“Biết. Là Ena.” Odin dừng lại, có chút bối rối rời đường nhìn về đống công văn, “Cũng có thể là… Frigg”.

Ta nghĩ, có lẽ giờ phút hoang mang nhất, bàng hoàng nhất trong cuộc đời ta chính là lúc này đây. Ba nghìn năm đã trôi qua, chàng nhìn thấy ta biến thành bộ dạng thế này mà vẫn có thể thản nhiên gọi tên ta như thế, hoàn toàn không có chút cảm xúc, đừng nói đến hân hoan, ngay cả sự căm ghét nhỏ nhoi cũng không thấy bóng.

Ta vặn vẹo hai tay xuyên qua lớp áo, cố sức nở nụ cười: “Thì ra ngài đã sớm biết”, giọng nói thấm đẫm phong sương, ta cũng cố gắng bắt nó nhẹ đi một chút.

“Sau khi sống lại, chắc hẳn có rất nhiều điều mà cô thấy hoang mang, nếu có chuyện gì không hiểu thì cứ hỏi, ta sẽ trả lời.”

Odin ngồi cách ta rất xa, dù vậy ta vẫn có thể thấy rõ được bóng của hàng mi dài, đen của chàng. Ta cố gắng chăm chú quan sát từng biểu hiện, từng sự thay đổi cảm xúc nhỏ nhất trên gương mặt Odin, ta muốn biết chàng đang nghĩ gì, định làm gì, nhưng hoàn toàn thất bại. Cuối cùng ta chỉ có thể hỏi một câu: “Vì sao Balder lại đối đầu với ngài?”.

“Ta không biết Loki đã nói gì với nó. Từ khi bị Hoder giết chết một lần, tính cách của nó thay đổi rất nhiều, cũng từng tuyên bố với người ngoài rằng nó không muốn tiếp tục sống dưới cái bóng của cha nữa.”

“Câu thần chú ‘đường về cõi chết’ Loki dùng với tôi năm đó đáng lẽ đã phát huy tác dụng rồi… Vốn dĩ tôi không có cơ hội tái sinh, vậy tại sao giờ này tôi vẫn có thể đứng đây mà nói chuyện với ngài?”

Odin trầm tư trong chốc lát, sau đó lắc đầu: “Chuyện này ta cũng không biết”.

Vì có những hạt cát sao mà ta dốc sức ném lên bầu trời khi trước, nên buổi tối của Thần giới lộng lẫy đến khác thường, ngàn vạn vì sao như những chuỗi dây chuyền tinh xảo được xuyên bởi sợi chỉ vô hình, cung điện Valhalla dường như đã biến thành cung điện của mặt trăng với ánh vàng nhàn nhạt. Ánh sao len vào qua khe cửa, chiếu xuống những ngọn tóc đen của Odin, trong phông nền có chút ưu thương ảm đạm của màn đêm, cảnh tượng trong giây phút ấy đẹp đến độ khiến người ta ngây ngẩn.

Thật ra, ta đã nên thấy đủ, đã nên thấy thỏa mãn rồi.

Bàn chân đã lui về phía sau một bước, nhưng trong ta vẫn có thứ cảm giác chẳng cam lòng đang giãy giụa đấu tranh, khiến ta dùng dằng đứng nguyên tại chỗ. Ta cố gắng vơ vét hết phần dũng khí còn sót lại trong người, ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mắt chàng: “Tôi chỉ muốn hỏi mấy câu đó thôi”. Dừng một chút, ta lại mở lời: “Những điều ngài muốn nói, cũng chỉ có thế thôi sao?”.

Khoảng lặng sau câu hỏi đó của ta dường như kéo qua cả trăm năm dằng dặc.

Mãi đến khi những tầng mây xám mỏng manh che lấp đi trời sao dày đặc, rồi lại chậm rãi trôi đi.

“Thế giới hồi sinh… là một thế giới hoàn toàn mới. Tất cả những mối quan hệ trong quá khứ đã sớm chẳng còn tồn tại.” Trong mắt Odin là ánh sáng cô đơn lạnh lẽo của sao trời đang chuyển động. Giọng nói của chàng trầm, thấp, rất êm tai, giống như tiếng kéo của một cây đàn violin êm ái: “Ta đã không còn yêu cô nữa. Xin lỗi!”.

“Tôi đã biết”, ta cố bắt bản thân bình tĩnh, nhẹ giọng đáp lời chàng.

Ta hối hận, hối hận vô cùng, tại sao ban nãy ta cứ cố hỏi cho bằng được.

Nếu không hỏi thì thật tốt biết bao, nếu không hỏi thì sẽ chẳng bị tổn thương, cũng không khiến chút ảo tưởng cuối cùng bị đập tan thành cát bụi.

“Có điều, trách nhiệm của ta là đối xử với cô thật tốt, dù sao chúng ta cũng đã từng là vợ chồng. Thế nên, có yêu cầu gì thì cô cứ việc nói ra. Nếu cô muốn lấy lại dáng vẻ trẻ trung như trước cũng không thành vấn đề, chỉ cần tìm Idun, nói tên của ta ra là được.”

Những từ sau đó, ta đều không nghe được.

Ta nhớ lại những ngày xưa, những ngày mà chàng còn âu yếm ôm ta vào lòng, nhìn ta bằng ánh mắt tưởng như vô tình nhưng lại rất đỗi dịu dàng ấm áp. Ta bắt đầu thấy hoang mang, bắt đầu nghi hoặc, phải chăng, tất cả chỉ là một giấc mộng?

“Đủ rồi, tôi không để tâm người khác nhìn mình thế nào. Nếu ngài đã nói ngài không còn yêu tôi nữa… vậy…” Ta cắn chặt môi, sau đó hỏi chàng bằng thứ âm thanh mà cả ta cũng nghe không rõ: “… Chàng có từng yêu em không?”.

“Giờ hỏi những chuyện này, còn ý nghĩa gì đâu.” Thân người Odin dường như hơi sững lại, ta rất ít khi thấy chàng trốn tránh câu hỏi như lúc này.

Câu nói “Đối với em chuyện này rất quan trọng” đã lên tới bờ môi, nhưng lại bị ta nuốt xuống. Thực ra ta đang rất sợ, sợ rằng chàng sẽ nói ra câu gì đó khiến ta rơi vào tận cùng tuyệt vọng… Không, ta có thể dám chắc rằng, chàng sẽ nói “Chưa bao giờ”.

Ta bị giằng xé giữa hai bờ cảm xúc: chẳng cam lòng và sợ hãi. Cuối cùng, nỗi sợ hãi đã đánh gục được ta. Nhưng ta còn chưa kịp xoay người bước đi, lại nghe thấy tiếng chàng đáp lại: “Có”, chàng thấp giọng nói, “… Đương nhiên có”.

Chớp mắt, một thứ cảm giác buồn chán và thất vọng đang dâng tràn mạnh mẽ trong lồng ngực ta, nước mắt cũng theo đó dâng trào bờ mi, nhưng lại bị ta dùng hết sức ép trở về. Chỉ thế cũng đủ để khiến ta kiệt quệ, chẳng còn chút sức lực nào để đáp lại lời chàng.

Cho ta đáp án ấy, chẳng bằng chàng cứ nói với ta đáp án: “Chưa từng”.

Thanh xuân là thứ mà một người con gái trân trọng nhất. Nhưng thứ đó đối với ta mà nói, cũng chỉ là để cho bản thân mãi mãi được xinh đẹp trong mắt người thương.

Chỉ cần lúc chàng còn yêu ta, ta vẫn sở hữu nét thanh xuân tươi đẹp nhất, mỹ lệ nhất, vậy là đã đủ lắm rồi.

Ta chỉ cười chính bản thân mình, đã sống cùng chàng bao nhiêu năm, vậy mà lại chọn đúng thời điểm này, dùng bộ dạng khó coi này để hỏi chàng một câu hỏi ngu xuẩn đến thế.

Odin vẫn cứ hững hờ như cũ: “Tuy rằng sau khi thức tỉnh, cô đã lựa chọn lưu lại ký ức của Frigg, nhưng Magny vừa báo lại với ta, cô có thể rèn ra cây ma trượng thuộc loại cao cấp nhất, từ đó có thể phán đoán, có lẽ ký ức sau khi sống lại của cô chưa hề biến mất, chỉ đang ẩn mình ở nơi nào đó trong biển tiềm thức mà thôi”.

“Có lẽ vậy”, ta cười, “Biết đâu một ngày đẹp trời nào đó tôi lại phát hiện ra mình yêu Loki cũng không chừng”.

Odin chăm chú nhìn ta trong chốc lát, sau đó nhìn sang hướng khác: “Nếu đã có ký ức trước đây, vậy thì quyền lựa chọn hoàn toàn nằm trong tay cô”.

Bị chàng nói một câu như thế, ta lại càng thấy khó xử hơn, nụ cười cũng trở nên gượng gạo: “Tôi chỉ đùa thôi. Nếu như có thể, tôi hy vọng mình có thể tiếp tục tiến xa trên con đường của một quỷ tượng, cống hiến một phần nào đó cho bộ tộc”.

“Chuyện này đương nhiên có thể. Ta sẽ nói với Magny, để ông ta giúp cô thăng tiến.”

“Tôi biết rồi.”

Ta gật đầu đầy kiên định, nói với Odin vài câu qua loa khác, rồi vội vàng bước ra khỏi tẩm cung của chàng, nhắm chặt mắt, tựa lưng vào cánh cửa, hít thở thật sâu.

Lúc này ta mới phát hiện, thế giới chân thực này hoàn toàn khác xa những câu chuyện được người ta tô vẽ, bất kể đó là một câu chuyện rạng ngời hạnh phúc hay thấm đẫm bi thương.

Không phải cứ mỗi lần chúng ta rơi lệ, là sẽ có một người tình cờ bắt gặp.

Không phải cứ khi có hiểu nhầm xảy ra, là sẽ có một cơ hội từ trên trời rơi xuống giúp đôi bên hóa giải mọi hiềm nghi. Khóc lóc thở than thường chỉ là chuyện trong chớp mắt, nhưng hiểu nhầm và sai trái trong một chớp mắt cũng đủ để trở thành nỗi hối tiếc dai dẳng cả một đời.

Sif từng nói với ta, thực ra tớ không phải là loại do dự không quyết đoán, cũng không thích cảnh nay bến này mai bến khác, chỉ là, tớ hy vọng những lúc mình rơi lệ sẽ có một bờ vai để mình nương tựa.

Giờ phút này đây, ta đã chẳng còn mơ có một bờ vai để mình dựa dẫm, chỉ hy vọng có cơ hội quay về quá khứ, thay đổi lần đầu gặp gỡ trong rừng cây ngày ấy. Để cho một phút giây sơ ngộ khiến đất trời điên đảo trở thành một lần vĩnh viễn đi lướt qua nhau.

Chiến tranh bỗng nhiên bùng nổ không phải vì lời tuyên cáo của Odin. Nhưng việc buôn bán của chúng ta với bộ tộc Vanir lại trở nên vô cùng khó khăn, tất cả hàng hóa xuất sang đều bị từ chối. Chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi cùng với nỗi lo lắng không yên, những người Khổng lồ ở Jotunheim lại liên minh với Vanaheim. Còn tuy chưa tỏ rõ thái độ, nhưng vì trăm năm nay văn hóa nước này đều chịu ảnh hưởng của Vanaheim, trong tư tưởng của họ vẫn còn theo đuổi bản năng của ánh sáng, nên rõ ràng họ cũng có khuynh hướng nghiêng về Vanir.

Cùng với tình hình mâu thuẫn giữa hai Thần tộc ngày càng mãnh liệt, một lượng lớn Khổng lồ và Tinh linh cũng đổ về Vanaheim như thác lũ, như thể có một cuộc sát nhập chủng tộc sắp được tiến hành. Chỉ là chủng tộc càng nhiều mâu thuẫn cũng càng lớn, ta nghĩ chỉ vài năm nữa thôi, sẽ có rất nhiều Thần tộc đi khỏi Vanaheim, lúc đó thì vấn đề của tộc Vanir sẽ không chỉ giới hạn trong phương diện ngoại giao và chiến tranh nữa.

Sự thực cũng chứng minh, phán đoán của ta rất có thể sẽ trở thành hiện thực. Ta đọc được những bài phân tích liên quan đến vấn đề này trên báo, và cả thái độ im lặng của Odin. Ta đột nhiên cảm thấy, tính cách của chàng đúng là chẳng thay đổi nửa phần. Nói thực lòng, loại người như chàng cực kỳ đáng sợ, lúc nào cũng làm trước nói sau, muốn chàng lên tiếng về những vấn đề chẳng liên quan hoặc những nhiệm vụ chưa hoàn thành còn khó hơn bắt chàng tự sát, cũng chẳng biết nên nói người như thế là quá đỗi tự tin hay là độc đoán chuyên quyền.

Thật ra nếu đơn độc đối đầu với tộc Vanir, chúng ta hoàn toàn có đủ thực lực để giao chiến tới cùng. Thế nhưng người Khổng lồ và Tinh linh đều ủng hộ đối phương, mà đất Svartalfheim lại quá xa xôi cách trở, hai nguyên nhân này đã khiến tộc Aesir rơi vào thế bất lợi rõ ràng. Nếu lúc này Sif cùng Tyr lại thức tỉnh ở tộc Vanir thì những ngày sắp tới của chúng ta chắc chắn sẽ rất gian nan.

Sif… Không hiểu đã có chuyện gì xảy ra với nàng, tại sao tới tận giờ vẫn không có tin gì về chuyện nàng thức tỉnh?

Nếu nàng xuất hiện ở tộc Aesir thì tốt quá. Có nàng ở bên, thì dù có chuyện gì xảy đến ta cũng sẽ không cảm thấy cô đơn.

Bởi vì đọc báo quá chăm chú, ta suýt nữa đã đốt luôn quần áo của mình. Về phần Magny, vô duyên vô cớ bị ép nhận một bà lão tuổi còn cao hơn mình làm học sinh, sức nhẫn nại của lão cũng sớm cạn đến đáy rồi. Lão đẩy đám thợ rèn đang vây xung quanh mình ra, sau đó đi tới trước mặt ta: “Bà phải nói thật cho ta biết, mấy kỹ thuật rèn này bà đã học được ở đâu?”.

Ta đổ dung dịch vào trong kẽ hở trên bao tay: “Điện hạ thật thích nói đùa. Tôi sống đến ngần này tuổi rồi, biết mấy thứ lặt vặt cũng là chuyện đương nhiên thôi”.

“Nhưng vì sao bà không phải là chủ thần mà lại có thần lực mạnh như thế? Còn nữa, sao đột nhiên lại có giấy chứng minh thân phận? Bà tự nhiên xuất hiện cứ như từ trên trời rơi xuống thế, làm sao ta biết được bà không phải là gian tế do tộc Vanir phái tới.”

Lão già này sao mà dài dòng quá. Sở thích lớn nhất cuộc đời lão chắc chắn là hỏi, hỏi, hỏi đến khi đối phương tắt thở thì thôi. Hồi trước ta còn thấy có tí đồng cảm với lão, giờ nghĩ lại mới thấy mình đúng là thích lo chuyện không đâu.

Thấy ta không trả lời, lão lại tiếp tục hỏi: “Sao không nói năng gì thế?”.

“Ta được bệ hạ sắp xếp tới đây làm việc, ngài nghi ngờ ta như vậy, chẳng lẽ muốn bày tỏ quan điểm gì sao?”

Magny ngẩn người, sau đó vội nói: “Ta đâu có ý nghi ngờ gì bà, nhưng ngay cả quê quán bà ở đâu ta còn không biết thì làm sao mà chỉ bảo bà được? Bà phải biết, hơn chín mươi năm phần trăm quỷ tượng của Asgard đều được học kỹ thuật rèn chính thống của Svartalfheim đấy”.

“Chuyện bà già này ghét nhất chính là lãng phí thời gian, ta nghĩ chắc điện hạ cũng thế thôi. Nếu điện hạ đã thông thạo kỹ thuật rèn chính thống nhất, vậy thì xin chỉ giáo cho bà lão này vài đường cơ bản đi.”

“Bà nên biết tộc Aesir chúng ta không giống đám khỉ lông vàng loi choi bên dưới kia đâu nhé. Trong mắt đám lông vàng đó, thần kim tượng biết chế tạo vũ khí rất được tôn trọng. Thế nhưng ở Thần giới này, quỷ tượng mà không ra được chiến trường thì chả khác gì mấy kẻ bán hàng rong ngoài chợ. Sao bà cứ phải cố sống cố chết mà theo nghiệp này chứ?”

“Điện hạ, ta đang chuẩn bị ra chiến trường mà.”

“Bà ư?” Lão kinh ngạc đến trợn tròn hai mắt, săm soi ta một lượt, “Ta không định xúc phạm bà đâu, nhưng Ena, tuổi của bà có còn trẻ trung gì cho cam…”.

“Mười quỷ tượng giỏi nhất được vinh danh trong tế điển của Thần giới sẽ được nhận táo vàng, không phải sao?”

Chuyện này không phải nói cho vui đâu. Mục tiêu của ta chính là trở thành quỷ tượng già nhất của chín thế giới, sau đó sẽ lấy được một trong mười thứ hạng đầu. Đương nhiên, mục tiêu cuối cùng là táo vàng rồi.

Tuy từ chối quả táo vàng Odin đưa cho cũng tiếc thật đấy, nhưng ta cũng tự an ủi rằng, dù sao ăn quả táo do chính mình dành được cũng sẽ cảm thấy vinh quang hơn chút đỉnh.

Magny chắc hẳn đang rất buồn bực, vì sao tuổi của ta và lão chẳng chênh nhau là mấy, vậy mà lối suy nghĩ thì như hai đầu thế giới vậy. Ta có thể đọc được trong mắt lão cái ý nghĩ rõ ràng: “Con mụ này điên rồi, mau mau đá mụ ta ra ngoài thôi”. Lão thậm chí còn không thèm rào đón thêm câu nào nữa, xoay người đi thẳng.

Ta cũng phải thừa nhận rằng những lời Odin nói làm ta đau đớn rất lâu, nhưng ảnh hưởng mang lại thì nhỏ hơn ta tưởng rất nhiều. Có lẽ là vì ta đã sớm chuẩn bị tinh thần, cũng có lẽ bởi vì phải dọn vào ở trong thần điện, nguyên việc chuyển nhà đã ngốn của ta một đống thời gian, sau đó lại tối tăm mặt mũi vì những đợt huấn luyện và công việc, nên ta chẳng còn hơi sức đâu mà nhớ lại chuyện ngày hôm đó. Chỉ là, đôi khi chợt nhớ, ta lại thấy tâm trạng mình chùng xuống, ngột ngạt, không tài nào thở nổi.

Trước khi nghe thấy tin tức ấy, tâm trạng của ta vẫn chỉ là ức chế mà thôi.

Ta vẫn làm việc ở phòng May vá, nên ngày ngày đều có thể nghe đủ thứ chuyện đồn thổi muôn màu muôn vẻ về các vị thần. Odin ít có mặt trong những chuyện thị phi này, nhưng sáng sớm hôm đó chàng lại trở thành trung tâm bàn tán của các cô nàng rỗi việc.

“Người phụ nữ đó trông mặt mũi ra sao? Làm sao mà nàng ta ‘đốn gục’ được bệ hạ vậy?”, một cô gái nói, có vẻ rất phấn khích.

Trong ấn tượng của mọi người, Odin là người ham mê công việc, coi phụ nữ chẳng là gì. Ta chưa bao giờ nghĩ tới khả năng chàng đi ngoại tình, không phải vì chàng là người chồng chung thủy, hay là “phương diện ấy” có vấn đề, mà bởi chàng quá bận, làm gì còn thời gian đâu mà đi trêu hoa ghẹo nguyệt. Vậy nên khi nghe cô nàng kia nói thế, ta cũng giật nảy mình, đinh ninh “bệ hạ” trong miệng cô nàng là một ai khác chứ chẳng phải chàng.

Một cô gái khác lập tức đáp lời: “Ta cũng chưa gặp bao giờ, hình như là nữ quan ở cung điện Glitnir thì phải. Cô cũng thiếu hiểu biết quá đi, đây đâu phải người phụ nữ đầu tiên mà bệ hạ công khai đi lại. Hình như hai năm trước đã có một người rồi… Sau khi Loki điện hạ thức tỉnh không lâu, Odin bệ hạ liền mang một phục ma quan về cung điện Vàng”.

“Thật sao? Người ta cứ đồn rằng bệ hạ thích người cùng giới, thì ra không phải, trời ơi, thất vọng chết mất… Chúa tể của các vị thần, làm gì có cô gái nào xứng được với ngài chứ.”

“Thế mới nói, người ta đồn tình nhân của bệ hạ không chỉ có một người đâu. Bạn của ta nói rằng, nàng từng lén nghe được cuộc đối thoại giữa bệ hạ và một nữ quỷ tượng. Nghe nói nàng ta lợi dụng sắc đẹp của mình để đổi lấy danh vị trong thượng giới tế điển đấy.”

“Thật á, trời ơi, ai lại đi dùng cái thủ đoạn đó để cạnh tranh chứ, đúng là đê tiện quá.”

“Đúng thế, đúng thế, đáng tiếc là cô bạn ta không nhìn thấy mặt người đó. Nếu không nhất định phải vạch mặt ả cho mọi người cùng biết.”

Vừa lúc ấy, thị nữ trưởng nghe được lời bàn tán của mấy người này, liền cất giọng nghiêm nghị: “Ta nghĩ chắc các cô từ bé tới giờ chưa được tham gia tế điển lần nào nên mới dám ăn nói lung tung như vậy. Thượng giới tế điển tổ chức hằng năm tiêu tốn bao nhiêu sức người sức của, còn cả thần lực nữa? Có bao nhiêu người nghĩ nát óc mong có thể chen chân vào danh sách một trăm cái tên ấy, cứ cho là chỉ đứng hàng chín mươi chín cũng đã đủ để chín vạn chín ngàn người khác đố kỵ đến phát điên. Đây không còn là vấn đề hy sinh nhan sắc nữa, chỉ cần có một cơ hội nhỏ nhoi thôi thì ai cũng sẽ cố gắng nắm lấy. Đứng trên cương vị của bệ hạ, ngài có thể đổ sông đổ bể tâm huyết của cả bộ tộc mình chỉ vì một cô gái hay sao? Huống hồ, lúc bình thường ngài dựng tường khiên vách sắt như thế mà còn có biết bao nhiêu người trăm phương ngàn kế muốn đeo bám lấy ngài, thế nhưng ngay cả cơ hội một đêm tình ngài còn chẳng cho. Hy sinh nhan sắc đổi lấy danh vị trong thượng giới tế điển? Nghĩ hay quá nhỉ. Tự cho mình là thần Tình yêu tái thế sao?”.

Mấy cô nàng kia im re một lúc lâu, sau đó mới có một giọng nói vang lên: “Nhưng chúng em thật sự nghe được tin ngài đi lại với một người con gái mà, là thật đấy chị ơi!”.

“Thế thì cũng chẳng liên quan gì đến thượng giới tế điển, có lẽ là tình nhân của bệ hạ thôi.” Thị nữ trưởng ngẫm nghĩ một chốc, sau đó bật cười: “Dù thế nào thì nàng ta cũng may mắn thật. Không tính đến ngôi vị Chúa tể của các vị thần, chỉ xét riêng ngoại hình và khí chất của bệ hạ thôi cũng đã đủ khiến bao người phải điên đảo rồi…”.

“Đúng thế đúng thế, ánh mắt của ngài, bờ môi của ngài…”

“Còn cả thân hình nữa!”

“Trời ạ, cô đúng là đồ háo sắc…”

Tiếng tranh cãi ồn ào của đám con gái cứ như truyền tới từ một thế giới xa xôi nào đó. Nhưng ta càng nghe càng thấy đầu óc mình rối tung lên, chẳng thể nào tập trung vào việc được.

Đàn ông sống bằng lý trí, phụ nữ lại thiên về cảm tính. Mà lý trí của Odin đã vượt xa tất cả đám đàn ông bình thường sống ở trên cõi đời này, đây cũng là nguyên nhân chính giúp chàng có thể duy trì ngôi vị Đế vương và nền thống trị lâu đến vậy. Chàng là loại người mà dù cho Hoàng hôn của các vị thần có giáng xuống thế gian lần nữa, thì trong vài tiếng ngắn ngủi còn lại, chàng vẫn có thể giữ cho đầu óc mình bình tĩnh, sau đó tính toán xem nên làm thế nào để giảm thiểu hoặc tránh được thương vong. Cũng bởi vì quá hiểu tính cách của chàng, nên trước đây chưa bao giờ ta nghĩ tới chuyện làm căng với chàng, mỗi lần có vấn đề ta đều là người nhún nhường hoặc nhận sai trước, cái ngôi vị Thần hậu kia làm cũng lắm lúc uất ức vô cùng.

Tâm trạng tồi tệ này của ta, một phần cũng là do những lời chàng nói ngày hôm đó. Dù là một từ nhỏ thôi, muốn ra khỏi miệng chàng cũng phải trải qua quá trình suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc… thế nên nếu chàng nói “xin lỗi”, vậy thì có lẽ sẽ thật sự “xin lỗi” cả đời.

Chỉ là, tuy chưa từng huyễn tưởng chàng chỉ thuộc về mình, nhưng ta cũng chẳng bao giờ nghĩ có ngày chàng thuộc về người khác.

Ta buông đống kim chỉ trong tay xuống bàn, đứng dậy, chạy ra khỏi phòng May vá.

Đột nhiên ta cảm thấy mình chẳng cần nhẫn nhịn thêm nữa. Chẳng cần biết tương lai sẽ thế nào, phải thẳng thắn nói cho chàng biết cảm xúc của mình, giải thích cho chàng những chuyện đã xảy ra lúc trước, còn cả những hình phạt tàn khốc mà Loki đã dùng để tra tấn ta… Dù cho mọi chuyện đều đã quá muộn, dù cho có thể khi nhìn thấy bộ mặt già nua này chàng sẽ chỉ thấy chán ghét ta hơn…

Chạy tới cửa cung điện Vàng cũng không phải là chuyện tiêu tốn thời gian, nhưng phải đợi mấy tiếng đồng hồ sau Odin mới trở về.

Mấy ngày gần đây trời bắt đầu trở lạnh, có vẻ tuyết cũng sắp rơi. Cảm giác nôn nóng cùng nỗi xúc động tràn căng trong lồng ngực cũng bị cái lạnh ép xuống tận cùng, thế nên đợi đến khi Odin trở lại, ta đã hồi hộp tới mức không kiềm chế nổi.

“Ena?”

Odin khoác trên người áo choàng đen, gương mặt gầy gò mà trắng trẻo, chiếc áo sơ mi trắng cùng những làn sương trắng theo hơi thở lan tràn ra không khí khiến hình ảnh chàng thêm chân thực vài phần.

Thế nhưng, chàng không trở lại một mình.

Một cô gái mặc áo choàng rất dày, đầu đội mũ của nữ quan đang ôm chặt cánh tay Odin. Dù cho bờ môi nàng đang run rẩy vì tiết trời lạnh giá, nhưng gương mặt tinh xảo kia vẫn đẹp đến độ khiến vô số đàn ông phải đắm đuối mê say. Dáng vẻ chàng cao lớn, uy nghiêm. Dáng vẻ cô gái ôm cánh tay chàng như thế lại càng lộ nét yêu kiều xinh xắn, cần được chở che.

“Cô tìm ta có việc gì?”, Odin hỏi.

Lần đầu tiên ta biết, thì ra khi thực sự muốn nhận sai, thật khó có thể nói ra hai từ “xin lỗi”; khi thực sự yêu say đắm một người, lời thú nhận vĩnh viễn sẽ chẳng thốt thành câu.

Ta mở miệng, nhưng từng giây chậm rãi trôi qua, chỉ có mấy lời bâng quơ quẩn quanh trong không khí: “Tôi chỉ vô tình đi ngang qua thôi”.

Sống lưng khi đã già rồi thì rất khó uốn thẳng, đây vẫn là điều khiến ta đau đầu suy nghĩ nhất sau khi sống lại. Nhưng lúc này đây, ta lại có thể vin vào tấm lưng còng này mà co mình lại, cúi gằm, lặng lẽ rời đi trước khi vẻ khốn đốn bị chàng phát hiện.

Khi lướt qua chàng, đột nhiên trong đầu ta hiện lên hình ảnh chàng ôm người con gái đó trong tẩm cung quen thuộc. Nỗi tuyệt vọng khôn cùng, phẫn nộ và đố kỵ gần như đã thiêu đốt lý trí của ta thành tro bụi, thế nhưng, ta nghĩ, chàng chẳng thể nhận ra.

Chẳng ai có thể nhận ra.

Từ đêm đó trở đi, vận xui cứ liên miên ập đến với ta. Chuyện ngày hôm ấy cứ luẩn quẩn mãi trong đầu, khiến ta không tài nào ngon giấc. Ngày hôm sau lại tối mắt tối mũi với công việc, ấy thế mà ta vẫn không buồn ngủ. Ta thức trắng cả một đêm rèn vũ khí, hy vọng có thể khiến thần kinh mình tê liệt đi một chút, cuối cùng khi bình minh sắp ló dạng, đột nhiên ta thấy cơ thể kiệt quệ, ta vội vàng bọc mình trong tấm áo choàng dày cộm, lủi thủi trở về nhà, vùi đầu vào gối. Sau khi ngủ dậy, đột nhiên ta thấy đầu mình nặng trĩu, ít nhất phải gấp hai lần trọng lượng mọi khi, cả người ta khó chịu, cứ như những khớp nối trong cơ thể đều rệu rã.

Cố gắng gượng dậy, lê bước tới nơi khám bệnh, bác sĩ nói bây giờ đương lúc giao mùa, ta đã mắc phải bệnh truyền nhiễm lan tới từ bên kia khe núi Tege, sau đó kê một đơn thuốc, bảo ta nhanh chóng đi mua.

Ta đột nhiên nhớ ra, tại Asgard tuy rằng khám bệnh miễn phí, nhưng muốn có thuốc thì phải tự bỏ tiền. Ta săm soi bảng giá, sau khi chắc chắn mình không đủ khả năng chi trả, đồng thời xác định căn bệnh này không thể chết người được, nên ta đi thẳng về nhà, nghỉ ngơi một ngày. Sang ngày hôm sau, cảm giác sức khỏe đã khá hơn một chút, ta lại ép mình bận rộn tới tối mịt, kết quả là cơn sốt cao ùn ùn kéo tới, toàn thân đau mỏi.

Ta nằm nhìn đống sách chất thành núi ở đầu giường, ngày tổ chức thượng giới tế điển cũng chẳng còn xa, ta biết nếu bỏ lỡ cơ hội này ta sẽ phải chờ thêm bốn năm nữa. Trong bốn năm ấy biết bao nhiêu chuyện bất ngờ có thể xảy ra… Bất luận là như thế nào, ta không thể thất bại thêm lần nữa. Dù sức lực của ta chỉ là hạt cát giữa biển khơi, dù cho mảnh đất này chưa chắc đã cần ta giúp sức…

Ta lấy danh nghĩa của Magny tìm phục ma quan xin một lọ thuốc giảm đau. Uống xong, cả ngày hôm đó ta rất ổn, ngoại trừ thỉnh thoảng thấy đầu váng mắt hoa.

Liên tục uống thuốc giảm đau mãi cho tới ngày thứ ba, ta ngất đi khi đang làm việc tại phòng May vá.

Khi mắt ta mở ra lần nữa, tác dụng của thuốc đã sớm không còn, ta đang nằm giữa một khung cảnh cực kỳ quen thuộc, trên một chiếc giường lớn cũng quá đỗi thân quen.

Odin chống cằm, ngồi bên giường, lông mày nhíu chặt. Khi thấy ta tỉnh lại, chàng hơi sững người, sau đó cơn thịnh nộ bắt đầu kéo tới: “Cô có biết cô đang làm cái gì không hả?”.

Tinh thần của chàng không được tốt lắm, dưới mắt có quầng xanh. Vẻ nôn nóng và tức giận trên gương mặt chàng lại càng làm nét tiều tụy lộ rõ. Ta còn chưa kịp đáp lời, Odin đã quăng hai cái chai màu xanh thẫm lên giường: “Cô có biết đây là cái gì không? Thứ này uống nhiều sẽ chết đấy, cô có biết không?”.

Ta nhìn chằm chằm hai cái chai ấy, chẳng thể mở mồm nói với chàng rằng mình không đủ tiền mua thuốc được. Hơn nữa, ta cũng không có đủ thời gian.

“Trong cuộc chiến Hoàng hôn của các vị thần, cô biết đã có bao nhiêu Thần tộc ngã xuống không? Một trăm ba mươi triệu người. Thế nhưng trong số một trăm ba mươi triệu người đó, chỉ chưa đầy bảy nghìn người có được cơ hội hồi sinh. Mà cô lại là một trong mười hai vị chủ thần hiếm hoi giữa hơn sáu nghìn con người ấy. Bất kể còn sức mạnh hay không, nếu cô dám đối xử với bản thân như thế thì dù cô có mệt đến chết, thì đó cũng là hành động không thể tha thứ.”

Đúng như ta đoán, nào có phải chàng không để ý chuyện năm xưa, chỉ là chàng đã giấu nó quá sâu, quá kỹ mà thôi. Đây cũng là lần đầu tiên chàng nghiêm khắc với ta như thế. Nghe những lời chàng nói, ta lại càng cảm thấy xấu hổ, cúi gằm mặt xuống: “… Xin lỗi, tôi chỉ suy nghĩ đến…”.

“Ta không cần lời xin lỗi của cô”, Odin cắt ngang lời ta, “Ta chỉ muốn cô sống. Không cần biết cô dùng phương thức nào. Nếu cô lại ném bỏ mạng sống của mình một cách dễ dàng như thế thêm lần nữa, thì dù thế giới này có biến thành bộ dạng thế nào, cô vĩnh viễn không bù đắp được lỗi lầm mình đã gây ra đâu”.

Áp lực ùn ùn kéo tới mà không hề báo trước, đè nặng xuống vai ta như một quả núi vô hình.

Những lời chàng nói ta đều biết, cũng đã sớm vì nó mà trĩu nặng tâm tư. Thế nhưng tự trách và bị người khác lên án là hai chuyện hoàn toàn khác nhau, huống hồ người khác ấy lại chính là Odin.

Ta vội vã gật đầu, vùi bàn tay khô gầy như cành củi khô của mình vào trong chăn ấm: “Tôi biết rồi, sau này tôi sẽ chú ý hơn”.

Cứ tưởng sau khi nghe ta nói thế chàng sẽ bớt gay gắt đi một chút, ai ngờ ta chỉ nhận lại được một khoảng lặng như bóp nghẹt tâm can. Mùi hương nhàn nhạt mà quen thuộc trên cơ thể chàng thoảng qua khoang mũi, lòng ta cứ thấp thỏm trong nỗi âu lo, không kìm được mà lui về phía sau một chút, hai mắt nhắm nghiền: “… Tôi sẽ tự chăm sóc tốt bản thân mình”.

“Nếu đã như thế, vậy thì trước hết cứ nghỉ ngơi tĩnh dưỡng cho khỏe đi rồi hãy lo việc khác.”

“Tôi sẽ…”, đảo mắt nhìn bốn phía, lúc này ta mới giật mình nhận ra mình đang nằm trong tẩm cung của Odin, cơn hoảng hốt làm ta thiếu chút nữa lăn khỏi giường: “Vậy… Tôi xin phép về trước”.

“Chờ cho cơ thể khỏe hơn một chút rồi hãy về. Hiện giờ tình trạng cơ thể của cô đang rất xấu.”

“Nhưng nếu tôi ở đây thì… có chút bất tiện.”

Odin chăm chú nhìn ta một lượt, trầm ngâm trong chốc lát: “Ta biết nói thế này thì rất mất lịch sự, nhưng xét theo tình huống hiện tại của hai ta mà nói, ta mới là người chịu thiệt khi cô ở lại đây”.

“Người chịu thiệt… là ngài?”, ta lặp lại lời chàng nói, nhìn gương mặt cực kỳ nghiêm túc kia, ta ngơ ngác một lúc lâu, sau đó mới phá lên cười. Nhiều phút sau ta mới chợt nhớ ra, đó nào có phải là chuyện gì đáng cười chứ, mà gương mặt ta lúc cười thì sẽ giống như đóa cúc đang đồng loạt xòe cánh hớn hở với đời, có khi ấy mới chính là chuyện đáng cười.

Quả nhiên, khóe miệng Odin lúc này khẽ cong lên, sau đó chàng vỗ vỗ tấm chăn đắp trên người ta: “Nghỉ ngơi cho tốt, ta có việc phải đi trước”.

“Được!”, ta cố sức gật đầu.

Nhìn bóng hình cao lớn của chàng đứng lên, sau đó bước về phía cửa, còn cả bờ vai rộng và vững chãi kia, ta khẽ thở dài một tiếng.

Người ta vẫn nói “yêu đến tận cùng sẽ khiến con người nảy sinh oán hận”, nhưng đối với Odin thì khác, từ trước tới nay ta chỉ dành cho chàng sự ái mộ và sùng bái đơn thuần nhất, chân thành nhất. Cứ cho là chàng chối bỏ ta, tay trong tay với một người con gái khác, ta cũng chẳng thể hận chàng.

Chàng là người như thế, là một người đáng để ta dâng tặng toàn bộ tấm chân tình.

Chỉ là, sau khi đã cùng chàng sống trọn một kiếp vợ chồng trọng nhau như khách, ta cũng thấy trái tim mình mệt mỏi. Thật ra, chỉ đơn giản ngắm nhìn chàng, quan tâm đến chàng như lúc này đây là tốt nhất. Mặc dù trong lòng ta có chút xót xa, có chút cô đơn tịch mịch, nhưng hạnh phúc lại rất đủ đầy.

Nhắm nghiền đôi mắt, mãi mà ta không ngủ được, nhưng lại mê mải trong một giấc mộng thật dài.

Odin vẫn chẳng khác trước đây là mấy, ngày ngày ngủ muộn dậy sớm, trừ những lúc phê duyệt công văn, còn lại cả ngày chẳng thấy bóng chàng đâu. Thế nên ta cũng chẳng có mấy cơ hội nói chuyện với chàng. Ta tìm về tất cả những cuốn sách viết về kỹ thuật rèn, trong vài ngày chọn lọc ra vài quyển, vùi đầu vào nghiên cứu, ngày nào cũng như ngày nào, cuộn mình trong chăn, đọc sách đến lúc ngáp ngắn ngáp dài mới thôi, sau đó thì rúc sâu hơn một chút vào chăn ấm, cứ thế nặng nề chìm vào giấc ngủ. Bởi Odin chưa bao giờ đi ngủ trước ta, nên ta cũng chẳng biết chàng qua đêm ở chỗ nào. Có điều, cứ chiếm giường của người khác hoài như vậy cũng không phải chuyện hay ho gì, vậy là sau khi cơ thể có được chút sức lực, ta để lại cho chàng một phong thư viết lời cảm tạ, rồi vội vội vàng vàng rời khỏi tẩm cung của chàng.

Sau đó thì đúng như ông bà ta vẫn nói, qua cơn bĩ cực đến ngày thái lai, đời ta lại bắt đầu thấy ánh sáng mặt trời. Ta đem mấy thứ vũ khí làm ra lúc luyện tập thuật rèn ngày trước bán đi, nhanh chóng kiếm được một món tiền kha khá. Từ giờ tới lúc Thượng giới tế điển được cử hành chỉ còn chưa đầy hai tháng, nếu ta muốn tham gia bình chọn, vậy thì phải cố gắng nộp cho được tác phẩm dự thi trước khi tế điển diễn ra một tháng.

Đề thi năm nay là “Trường kiếm dùng cho các kỵ sĩ có chứa Hỏa ma pháp”, ngoài ra thì không còn yêu cầu gì thêm nữa, cũng đồng nghĩa với việc sức sáng tạo và kỹ thuật rèn sẽ được đánh giá gắt gao hơn. Đó là chưa kể trước khi nộp tác phẩm dự thi ta còn phải tham gia cuộc thi thăng cấp làm quỷ tượng nữa, nếu không thì dù tác phẩm có đạt giải nhất ta cũng chẳng xơ múi được gì. Ta đã xem qua một lượt đề thi của tất cả các năm, cũng không quá khó. Có điều, rất không may mắn, muốn tham dự cuộc thi sát hạch những nghề nghiệp cao cấp thì phải hẹn trước, mà thời gian thi ta đăng ký được chỉ cách hạn cuối nộp tác phẩm đúng một ngày. Thế nên, để phòng ngừa sự cố phát sinh, ta phải đẩy nhanh tốc độ hoàn thành tác phẩm, đồng thời gấp rút chuẩn bị cho thi cử, chừa lại đủ thời gian để ứng phó với những chuyện bất ngờ có khả năng xảy đến.

Thần kim tượng với quỷ tượng cũng có cả đống điểm khác biệt. Thế nên trong một tháng này, ta càng chẳng dám lơ là việc huấn luyện ở chỗ Magny. Cũng có thể mấy ngày gần đây ta có động lực thúc đẩy, nên mấy lần bị Magny mắng nhiếc rằng ta làm việc y chang đám trẻ trâu, vừa sốc nổi vừa bộp chộp, hấp ta hấp tấp, những lúc ấy ta cũng chẳng biết nên khóc hay nên cười nữa.

Cứ đếm ngược từng ngày từng giờ khiến ta thấy áp lực vô cùng. Nhờ vào việc bán vũ khí, ta cũng kiếm được chút tiền, ta dứt khoát xin thôi việc ở phòng May vá trong thần điện, sau đó tới khu phố trung tâm thuê hai trợ thủ người ngoại tộc, chuẩn bị bắt tay vào việc chế tác trường kiếm của kỵ sĩ.

Dẫn hai trợ thủ về xưởng rèn, ta còn chưa kịp ngồi xuống, một giọng nói lạnh lẽo như băng đã vang lên phía sau: “Bà và Odin có quan hệ thế nào?”.

Quay đầu lại nhìn, mới phát hiện người vừa nói chính là cô quỷ tượng xinh đẹp - Yule - dạo nọ.

Mọi người ai cũng biết Yule rất yêu thích công việc của mình, lúc nào cũng thấy nàng ta mặc váy dài của quỷ tượng. Quần áo của thần kim tượng tộc Vanir hơn nửa đều là những bộ váy ngắn trông rất năng động đáng yêu, còn quỷ tượng của tộc Aesir lại chẳng chịu rời giày cao gót với chiếc váy dài, vừa gợi cảm vừa chín chắn, nhưng lại khiến người ta thấy có chút khó gần.

Lúc này Yule đang khoanh tay trước ngực, đứng ở cửa xưởng rèn, toàn thân toát ra thứ khí thế hung hăng dữ tợn.

Ta chưa bao giờ nghĩ nàng ta lại thẳng thừng như thế. Còn đang suy xét xem nên trả lời câu hỏi kia thế nào, Yule đã lại bồi tiếp một câu còn động trời hơn: “Rốt cuộc bà là ai? Frigg?”.

Vừa nghe thấy cái tên này, ánh mắt hai gã trợ thủ đứng bên cạnh ta đều lóe lên vẻ kinh ngạc. Thấy hai người đó lén liếc nhìn nhau rồi lại cố gắng nhịn cười, ta cũng chỉ đành gượng cười đáp lại: “Thật ra ta chính là bà ngoại của Odin. Bao nhiêu năm nay phiền mọi người chăm sóc cháu ta, bà già này thật sự rất biết ơn”.

Một gã trợ thủ không nhịn được, phì cười.

Yule nheo mắt, săm soi ta một lúc lâu, sau đó mới “hừ” một tiếng, xoay người đi mất.

Bảo ta không giật mình thì rõ ràng là nói dối. Tự ta cũng biết bộ dạng hiện tại của mình so với ngày xưa đúng là như trời nam đất bắc, e là ngay cả mẹ ruột của ta còn chẳng nhận ra ta, sao Yule lại có thể biết nhỉ?

Chuyện này không thể cứ thế là xong được.

Sau khi sắp xếp ổn thỏa cho hai trợ thủ, ta vội vã rảo bước trên hành lang rộng rãi mà vắng vẻ. Tiếng gót giày nhọn hoắt màu đen của Yule nện xuống nền đá thạch anh vang lên liên tục, nàng ta đi rất nhanh, vừa đi vừa khoác lên vai một chiếc áo choàng màu đỏ thẫm cực kỳ sang trọng.

Trời lất phất mưa.

Yule đeo găng tay vào, có chút ngần ngừ nhìn ra bên ngoài. Nhưng nàng ta chỉ mới dừng lại trong chốc lát thôi, đã có một đám đàn ông chậm rãi tới gần, ân cần đưa ô. Yule chỉ chỉnh trang lại cổ áo, sau đó liếc mắt nhìn, chọn đại một cái ô, lạnh lùng nói “Cảm ơn”, rồi ngạo nghễ rời đi.

Một gã đàn ông trong số đó vội vã đuổi theo nói mấy câu, Yule chỉ nhìn hắn, mặt lạnh như tiền. Hình như hắn tưởng Yule đã ngầm đồng ý, nên vươn tay định cầm ô che giúp. Nàng ta khẽ nhíu mày, sau đó tách khỏi hắn. Gã đàn ông vẫn chưa bỏ cuộc, áp sát lại gần, ôm lấy vòng eo Yule.

Sau đó là một âm thanh chát chúa khi một cái bạt tai giáng xuống, lướt qua lỗ tai ta, luẩn quẩn nơi cuối hành lang phải đến bốn, năm giây đồng hồ.

Ta không nhịn được mà run một hồi. Nàng ta còn mạnh mẽ hơn cả Sif.

“Rất đáng sợ, đúng không.”

Nghe thấy giọng nói ấy, ta vội vã quay đầu. Người đứng trước mặt ta là một nữ vu sư mặc bộ váy đen với những viền đăng ten lộng lẫy. Ngũ quan của nàng dường như đều nhỏ hơn người bình thường một chút, nhưng thân thể lại nóng bỏng đến bất ngờ.

“Để đạt được danh hiệu Quỷ tượng số một, Yule sẽ bất chấp mọi thủ đoạn, nàng ta có thể hại bất cứ người nào, ngay cả thầy của mình là Magny cũng không tha đâu”, nữ vu sư thở dài một tiếng: “Bà có biết vì sao nàng ta lại khăng khăng bám trụ với cái nghề quỷ tượng này thế không?”.

Ta lắc đầu.

“Bởi vì có người nói bệ hạ từng yêu say đắm một thần kim tượng thuộc tộc Vanir, mà Yule lại yêu bệ hạ đến điên cuồng, cứ cố chấp rằng chỉ cần trở thành quỷ tượng số một là có thể chiếm được trái tim bệ hạ. Haizzz, đúng là chẳng dễ dàng gì…”

Ta đột nhiên nhớ tới tin đồn đã từng nghe khi trước… Chẳng nhẽ tình nhân của Odin chính là Yule?

Ngẫm nghĩ một lúc lâu, cuối cùng ta vẫn chẳng dám thốt ra câu hỏi kia. Hàn huyên vài câu với nữ vu sư nọ xong, ta trở về xưởng rèn, bắt đầu phác thảo bản thiết kế trường kiếm của kỵ sĩ.

Một tuần sau, ta lại gặp Yule lần nữa.

Những người tham gia tranh cử chức nghiệp trong Thượng giới tế điển đều phải đăng ký thêm hạng mục thi đấu theo nhóm. Tối thiểu hai người, tối đa là sáu người, nhóm hợp tác có thể dùng bất kỳ phương thức nào để thể hiện năng lực thực chiến và khả năng phối hợp hành động của mỗi cá nhân. Tuy rằng điểm thi đấu theo nhóm chỉ chiếm mười lăm phần trăm, nhưng phần thi này là bắt buộc. Những người hợp tác phải làm nghề khác mình, có thể lập đội theo mọi phương thức.

Hoạt động tuyển chọn đồng đội được tổ chức công khai tại thành Hande, trong sảnh lớn bên bờ cây cầu Dabu thần thánh.

Sau khi vào đông, thành Hande vốn quanh năm lạnh lẽo đã sớm đóng băng, xung quang tòa thành là vòng vây của vô số những hạt băng trắng xóa, mặt sông dưới chân cầu phản xạ thứ ánh sáng màu xanh tím.

Đây đã là ngày cuối cùng để chọn đồng đội, tuy ngày nào ta cũng đến, cũng vô khối lần thể hiện thực lực bản thân trước mặt những thí sinh khác, chẳng hiếm người tin ta có thể thi đậu cuộc thi quỷ tượng một cách trót lọt, nhưng vẫn chẳng có ai đồng ý sánh vai thi đấu với một người mà ngay cả giấy chứng nhận nghề nghiệp lẫn giấy đảm bảo cũng không có.

Mở to mắt nhìn một lũ vô dụng lần lượt bị các nhóm khác nhận về, những ánh nhìn thấm đẫm đồng tình xen lẫn kỳ quái của người xung quanh càng lúc càng bủa vây ta, khiến ta có suy nghĩ “rút

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.

Bình luận truyện