Nam Quốc Sơn Hà

Chương 38: Giao-chỉ Ngũ Kiêu



Giữa lúc Tống triều chia phe tranh cãi suốt ngày này qua ngày khác, thì chiến cuộc Ung-châu đang diễn ra cực kỳ khốc liệt.

Theo lời đề nghị của quân-sư Tôn Đản, nguyên-soái Lý Thường-Kiệt trao việc chỉ huy công thành cho đô-thống Trần Di. Lập tức Di họp Tây-hồ thất kiệt, Long-biên tam hùng lại để nghị kế. Trần Di hỏi:

– Từ trước đến nay, chúng ta đã học công-kiên pháp. Công-kiên pháp có rất nhiều: Dùng máy bắn đá, dùng cung thủ bắn tỉa, đào hầm xuyên vào trong, khơi nước làm lở thành, dùng tên lửa đốt dinh thự kho lẫm, bắc thang leo vào. Nay thành Ung quá kiên cố, tường cao, hào sâu, các phương pháp trên đều vô hiệu. Vậy anh em có ý kiến gì không?

Lý Đoan là thầy thuốc, chàng đưa ra một ý kiến:

– Trước hết phải làm sao cho quân ta khỏi mệt, gây cho quân địch mệt mỏi đã. Làm cho quân ta khỏi mệt, ta chia lực lượng làm ba đạo, một đạo tấn công, một đạo nghỉ hoàn toàn, một đạo nghỉ một nửa. Vậy trong mười hiệu Thiên-tử binh với hiệu kị-binh, ta chia thành ba đạo, mỗi đạo ba hiệu; mỗi ngày một đạo công thành, một đạo nghỉ. Đó là lực lượng tấn công và nghỉ hoàn toàn.

– Như vậy... Ta.. ta.. còn.. còn hai hiệu nữa để làm gì?

– Điếc hay hóng, ngọng hay nói.

Lý Đoan méo mặt trêu Dương Minh: Ta đã nói hết đâu? Còn đạo thứ ba chỉ có hai hiệu thôi. Trong khi ba hiệu tấn công, ba hiệu nghỉ thì hai hiệu này nghỉ một nửa tức ứng trực, phòng quân trong thành đánh ra có thể tham chiến ngay.

Đô-thống Ngô Ức hỏi:

– Kế này được quá. Vậy còn phương pháp làm cho quân Tống mệt mỏi?

– Thì chính việc ta vừa đánh vừa nghỉ hẳn, vừa nghỉ một nửa... Nên ta có thể đánh hoài không mệt, mà quân Tống cứ phải lo chống đỡ, nên chỉ mấy ngày chúng sẽ mệt lả.

Thế là cuộc chia quân công thành được áp dụng. Quả nhiên ngày thứ nhất quân Tống chống trả rất hăng, sang ngày thứ nhì bắt đầu chùn nhụt. Đến ngày thứ ba thì mệt nỏi vô cùng. Nhưng sang ngày thứ tư, thì sức chống trả lại hăng hái như ngày đầu. Lập tức Trần Di cho họp anh em nghị kế.

Quách Y xoa tay vào cái đầu hói bóng như quả dưa:

– Tôi thấy phương pháp của Lý Đoan làm cho quân mình khỏe thì thực tuyệt diệu. Nhưng còn làm cho địch mệt thì chỉ hữu hiệu có ba ngày. Vậy bây giờ ta phải làm gì?

Tạ Duy dơ tay lên nói. Trần Di cười:

– Duy có cao kiến gì?

– Tao lùn như con vịt, thì chỉ có ý kiến vịt mà thôi. Tên tướng thủ thành là Tô Giàm, nó khôn như cáo già. Sau ba ngày ta công thành vào giờ Thìn, nghỉ vào giờ Mùi, nó nhận ngay ra sơ hở của ta. Lập tức nó dùng toàn lực chống trả vào lúc ta đánh thành. Còn vào giờ khác, thì chia toán ra canh chừng. Vì vậy quân nó khỏe re hà!

Vợ Triệu Thu là Phương-Liễu đề nghị:

– Hồi còn bé mỗi khi em phạm tội gì, mẹ em thường kết tội rồi tuyên phạt đánh bao nhiêu roi. Nhưng người không đánh ngay, thành ra em luôn luôn lo sợ không biết bao giờ thì bị đòn. Rồi khi người đánh đòn, người cứ dơ roi mà kể tội, trong khi em cong mông lên sợ hãi, mà không biết bao giờ cái roi quất xuống. Bây giờ muốn cho quân Tống mệt, ta hãy là bà mẹ, còn quân Tống là đứa trẻ bị phạt. Như vậy ắt chúng mệt nhừ tử ngay.

Phạm Dật vui vẻ:

– Hay, không ngờ hoàng-hậu của Mai Hắc-đế lại nghĩ ra được phương pháp hay đến như vậy. Ngay ngày mai ta áp dụng. Vậy thì thế này: Ta vẫn giữ nguyên việc chia toán, nhưng còn giờ công thành thì thay đổi. Khi thì ta công vào buổi sáng, khi thì ta công vào buổi chiều, khi thì ta công vào nửa đêm; lại có khi ta công liên tiếp mấy ngày mấy đêm. Chúng sẽ không biết đâu là thực đâu là hư, như vậy chỉ mấy ngày là mệt hết thở nay.

Kế này quả nhiên hữu hiệu. Sau năm ngày công thành, làm cho quân, dân binh thủ thành luôn luôn kinh hoàng, phập phồng lo sợ. Hôm ấy tới lượt hiệu Bảo-thắng, Hùng-lược, Vạn-tiệp công thành. Hai hiệu Ngự-long, Đằng-hải làm trừ bị. Ba đô-thống Quách Y, Ngô Ức, Tạ Duy cùng Phương-Tiên, Phương-Dược, Phương-Quế dự định công thành vào giờ Tý (nửa đêm). Đúng giờ, sáu người cho quân phát pháo bắn đá lên thành, rồi bộ binh reo hò xung phong. Quân thủ thành giật mình thức dậy, mặc giáp trụ, mang vũ khí ra vị trí phòng thủ. Đuốc đốt lên sáng rực, trong khi cơ thể rã rời.

Quách Y cỡi ngựa cùng toán thần-tiễn Long-biên đi vòng quanh thành, cứ thấy quân Tống nhô đầu lên là bắn ngã. Khi đến cửa Đông thì gặp Trần Ninh, Trần Ngọc-Hương đang cho hiệu Đằng-hải mang tre đến. Quách Y hỏi:

– Hôm nay bọn mi nghỉ một nửa, sao không nghỉ, mà làm gì đây?

Ngọc-Hương nhỏ nhẹ:

– Chúng mình công thành, nhưng thành cao tới bốn trượng (8 m ngày nay) thành ra không biết tình hình bên trong. Em cho làm một cái đài bằng tre gọi là trúc đài, cao tới mười hai trượng (24m), để mình leo lên quan sát tình hình địch, như vậy đánh mới kết quả.

Lát sau, bốn cái đài được dựng lên bằng những khúc tre ngắn nối với nhau, đặt ở bốn góc thành. Các tướng chỉ huy leo lên lên cao quan sát. Nhưng trong đêm, nhìn không rõ. Sáng hôm sau, trong buổi họp, Trần Di hỏi anh em:

– Hôm qua ông bà Trần Ninh chế ra cái thang có thể nhìn vào trong thành. Vậy anh chị em có ý kiến gì không?

Lê Kim-Loan đề nghị:

– Sáng nay em đã leo lên bốn cái thang ở bốn cửa thành nhìn vào, rồi vẽ được bản đồ dinh thự, kho lẫm, nhà cửa. Thì ra từ trước đến giờ, mình dùng Thần-nỏ bắn đại-tiễn tẩm dầu, đốt lửa bắn vào đều là bắn hú hỏa, nên không gây kinh hoàng cho địch. Vậy đêm nay ta leo lên thang, chỉ huy đại nỏ bắn vào mới chính xác.

Đêm hôm ấy, đến lượt ba hiệu Vũ-thắng, Long-dực, Thần-điện công thành. Hiệu Ngự-long, Đằng-hải trừ bị. Trần Di, Dương Minh, Triệu Thu cho khởi sự vào giờ Dậu (19-21 giờ). Đúng giờ, Thạch-xa bắn đá, bộ binh reo hò bắc thang leo lên. Trống thúc vang dội, quân reo rung động trời đất. Cuộc tấn công đến giờ Sửu (1-3 giờ sáng), thì đại-nỏ khai hỏa bắn vào. Những mũi tên bằng tre, to hơn bắp tay, ruột chứa nhựa cháy, đầu quấn bông tẩm dầu; châm lửa bắn bay bổng lên cao thành những vệt đỏ như con rồng lửa sáng rực bầu trời thành Ung. Các đội trưởng Thần-nỏ đứng trên đài điều chỉnh cho xạ thủ bắn. Tại cửa Đông, Trần Minh, Phương-Lý thân điều chỉnh cho các dàn đại-nỏ. Mũi thứ nhất rúng vào khu vườn hoang. Phương-Lý hô:

– Xa hơn khoảng chín trượng, lùi về bên trái ba trượng nữa.

Mũi thứ hai trúng ngay vào khu nhà của quân Tống và gia đình ở. Lập tức lửa bốc cháy ngụt trời.

Phương-Lý hô:

– Trúng rồi, cứ thế mà bắn.

Lát sau hơn hai chục mũi khác đều trúng đích. Cả một khu nhà chìm trong biển lửa, ánh sáng rực trời. Trong khi quân lính hò hét chữa cháy, thì dân chúng bồng bế dắt díu nhau rời khỏi nhà. Những ống tre gặp lửa nổ lốp bốp, mỗi lần nổ lại tung những tàn ra xung quanh.

Tại cửa Nam, Dương Minh, Phương-Cúc chỉ huy bắn trúng vào dinh thự tổng-trấn. Khu này lại bốc cháy. Tiếp theo đại nỏ cửa Tây do Triệu Thu chỉ huy bắn trúng khu nhà dân chúng. Đại nỏ cửa Bắc do Phương-Liễu chỉ huy bắn trúng khu chứa lương thảo. Thế là thành Ung biến thành một biển lửa. Tiếng kêu khóc, hoà lẫn tiếng la hét gọi nhau ơi ới, tiếng rên la vọng ra như một cơn bão biển.

Giữa giờ khắc kinh hoàng của thành Ung ấy, thì Phạm Dật, Trần Ninh đem mười xe chở những ống luồng to bằng bắp chân, dài khoảng nửa trượng (1 m). Dương Minh hỏi:

– A ha! Hai bà chị thấy nỏ-binh mệt, thổi xôi lam mang đến tiếp tế hả? Cơm lam mà do bà chị Kim-Loan, Ngọc-Hương nấu thì tuyệt vời.

Ngọc-Liên xua tay:

– Không phải cơm lam đâu! Mà là Lôi-tiễn, bọn em mới chế ra, nay mang đến để các anh thử đấy!

– Lôi tiễn?

Phương-Cúc hỏi: Lôi tiễn là gì vậy? Khi học binh pháp mình đâu có nghe nói?

Kim-Loan bật cười:

– Binh pháp của các cụ đặt ra được, thì ta cũng biến chế đi được chứ? Lôi nghĩa là sấm sét, tiễn là mũi tên. Bọn em dùng ống luồng gồm có ba đốt, chẻ đôi ra. Đốt thứ nhất chứa nhựa cháy, đốt giữa chứa hoàng-thạch (lưu huỳnh), đốt thứ ba chứa dẻ tẩm dầu. Sau đó cột lại. Ta đốt lửa đầu có dẻ tẩm dầu, rồi dùng Thần-nỏ bắn vào thành. Khi Lôi-tiễn bay tới thành thì lửa cháy tới đốt chứa hoàng thạch. Hoàng thạch nổ tung, bắn nhựa cháy ra xung quanh. Như vậy, một mũi có sức công phá mạnh hơn đại nỏ tẩm dầu nhiều.

Triệu Thu khen ngợi:

– Hay thực, để ta thử xem.

Y rời trúc đài, đặt ba mũi Lôi-tiễn vào Thần-nỏ, đích tay châm lửa rồi hô:

– Bắn.

Nỏ binh giật dây, ba mũi Lôi-tiễn xẹt lên trời tỏa ánh sáng xanh-vàng-đỏ kéo dài trên không. Bọn Phạm Dật, Trần Ninh, Triệu Thu tung mình lên trúc đài quan sát. Vì mục tiêu quá xa, nên Lôi-tiễn còn đang bay trên không đã phát nổ. Ba tếng nổ lớn như sét đánh trên không trung, rồi ba trái cầu lửa mầu xanh lè chụp xuống ngay giữa chỗ tập trung quân phòng ngự. Hàng vạn viên lửa do nhựa cháy chụp xuống đám quân. Chúng la hét, chạy tứ tán.

Thế là Phạm Dật, Kim-Loan, Trần Ninh, Ngọc-Hương cho binh sĩ chở hai chục xe Lôi-tiễn tiếp tế cho Dương Minh, Trần Di, Triệu Thu nã vào thành. Có những Lôi-tiễn rơi xuống rồi mới phát nổ, có những Lôi-tiễn đang bay thì phát nổ, cũng có Lôi-tiễn tới mục đích rồi phát nổ. Tiếng nổ kinh thiên động địa, ánh lửa bốc lên sáng rực một bầu trời, đến nỗi những vùng cách xa đến hai mươi dặm cũng nhìn thấy.

Tiếng kêu làm cho Tôn Đản, Cẩm-Thi thức giấc. Không biết chuyện gì đã xẩy ra? Hai ông bà vội mặc quần áo, cỡi ngựa đến quan sát trận địa. Ông bà leo lên trúc-đài nhìn vào trong thành: Dưới ánh lửa sáng rực, thấy rõ cảnh bên trong. Chỗ này quân sĩ lăn mình vào chữa cháy, chỗ kia thì dân chúng kêu khóc thảm thiết. Cũng có người chạy không kịp, lăn lộn trong đống lửa. Đại-nỏ vẫn tiếp tục nã Lôi-tiễn vào. Mười Lôi-tiễn trúng ngay chỗ kho lương đang cháy, lập tức mười cột lửa nổ tung tàn lửa bay vọt lên cao, khiến cho hơn trăm người vừa già, vừa đàn bà, vừa trẻ con bốc cháy như cây đuốc.

Dù đã chinh chiến bốn chục năm qua, dù đánh dư trăm trận, dù lăn mình vào chỗ chết biết bao lần; nhưng ông bà Long-thành ẩn-sĩ vẫn không đủ can đảm nhìn cảnh đó. Ông bà vội xuống thang. Ông nhìn bà, bà nhìn ông, hai vị không nói với nhau một lời; nhưng trong cái nhìn ấy, chứa biết bao nhiêu lời nói, bao nhiêu đau xót.

Cuộc nã Lôi-tiễn tới sáng thì chấm dứt, nhưng khói lửa trong thành vẫn bốc lên ngùn ngụt.

Trưa hôm đó Phạm Dật họp Long-biên tam hùng, Tây-hồ thất kiệt, cùng các đội trưởng Thần-nỏ lại nghị sự.

Dương Minh suýt xoa:

– Sáng chế của hai anh Phạm Dật, Trần Ninh thực hiệu nghiệm. Hiện chúng ta có lệnh chỉ đánh cầm chừng, để hút viện quân tới. Bằng không ta chỉ cần nã một đêm nữa, thì trong thành không còn một người sống sót.

Triệu Thu góp ý:

– Anh Dật, Ninh này. Lôi-tiễn hay thực, nhưng nó chỉ hữu hiệu khi đốt kho tàng, dinh thự thôi. Tôi đề nghị anh chị chế ra bốn loại khác nhau!

Trần Di cũng đồng ý:

– Đúng! Loại Lôi-tiễn đầu tiên dùng để đánh phá kho tàng, dinh thự. Ta nên làm loại thứ nhì, trộn lẫn hoàng thạch với nhựa cháy. Loại này bắn lên trên không thì nổ, hoàng thạch sẽ tung nhựa chứa thành cái lơm lửa. Loại này dùng để bắn vào đội hình quân giặc.

Kim-Loan khen:

– Ý anh Di hay. Loại thứ ba chỉ chứa toàn dẻ tẩm dầu, dùng để đốt rừng, đốt nhà!

Triệu Thu chắp tay:

– Chịu bà chị. Loại thứ tư chỉ chứa toàn mã não, hoàng thạch. Loại này cần bắn lên thực cao, khiến nó phát nổ trên không. Tiếng nổ do mã não, hoàng thạch sẽ lớn vô cùng. Ta dùng để gây kinh hoàng cho địch.

Thế là Phạm Dật, Trần Ninh tập trung nỏ binh lại hướng dẫn chế tạo năm loại Lôi-tiễn. Ngay đêm đó, các dàn Thần-nỏ chia nhau "thí nghiệm" Lôi-tiễn. Thành Ung muốn nổ tung lên về những trái Lôi phát ra.

Cuộc nã đại nỏ sang ngày thứ ba thì quân thủ thành mệt mỏi đến không còn sức chống trả. Phạm Dật họp chư tướng lại, quyết định công thành liên tiếp ba ngày, sang ngày thứ ba sẽ tấn công thực sự vào thành. Kế hoạch được trình lên nguyên-soái Thường-Kiệt. Ông gọi Phạm Dật giảng giải:

– Nếu đánh như thế thì chiếm được thành. Chiếm được rồi, ta phá hủy thành, sau đó phải rút về. Nhưng tại Quế-châu, Tống còn ba đạo binh đệ 1, đệ 2, đệ 3 và đạo kị-binh số 47 ta vẫn chưa phá được. Vậy ta phải duy trì thành Ung, để nhử cho Lưu Di gửi bốn đạo binh kia tiếp viện cho ta diệt.

Ông ghé miệng vào tai Phạm Dật dặn mấy câu. Phạm Dật tuân lệnh, rồi ra họp chư tướng, quyết định ngừng nã hoả pháo.

Hôm sau Phạm Dật sai bắn thư của nguyên-soái Lý Thường-Kiệt gửi cho Tô Giàm. Đại ý thư nói, quân Việt là quân nhân nghĩa, nên tạm hưu chiến, lùi xa ba chục dặm, để quân Tống có thể tắm rửa, nghỉ ngơi, chữa trị thương binh; hoặc ra ngoài thành kiếm củi, mua lương thực. Thư cũng nói rõ: Chinh chiến, chém giết là giữa quân với quân, dân chung vô tội. Vậy Tô hãy cho dân chúng rời khỏi thành, để khỏi bị chết oan.

Khi nhận được thư, thì khi quân tướng Tống reo hò, mừng rỡ. Trong khi Tô Giàm tỏ ý nghi ngờ:

– Bọn Tôn Đản, Thường-Kiệt là những tên xảo trá khón lường. Chúng đành thành không được, nên giả nhân giả nghĩa, để ta không phòng bị, rồi bất thần tấn công đấy.

Nhưng quả nhiên quân Việt rút ra xa thực. Binh tướng Tống được nghỉ ngơi. Họ xin phép được ra ngoài thành kiếm củi, mua lương thực. Nhưng người đi thì nhiều, mà về thì chẳng bao nhiêu, bởi họ nhân dịp này đào ngũ hết. Tô sai thành lập một đội đao phủ, gồm toàn những thân binh trung kiên ra nấp ngoài thành, hễ bắt được người nào trốn là bắt đem chém liền. Hôm ấy, quả bắt được mười người bỏ trốn. Tô sai chém đầu, rồi đem đi bêu khắp các trại quân. Nhưng lần quân Việt hưu chiến sau, than ôi, chính đội đao thủ đi bắt đào binh lại bỏ trốn hết.

Quân Việt lại công thành.

Lối công thành của quân Việt cũng không nhất định. Khi thì dùng đội Thần-tiễn Long-biên đi vòng quanh thành, hễ thấy quân Tống thò đầu lên là bắn ngã liền. Khi thì cho quân giả bắn đá lên, rồi sai bắc thang leo vào, thế bắt buộc quân thủ phải rời khỏi chỗ núp lên mặt thành lăn gỗ đá xuống. Lập tức bị đội Thần-tiễn bắn rơi như sung rụng. Một vài lần Tô-Giàm cho rằng quân Việt xung phong giả, không cho quân lên mặt thành lăn gỗ đá, thì quân Việt lại đánh thực; lần ấy gần mười người lọt vào thành.

Nhưng kinh khủng nhất vẫn là những lần quân Việt dùng hỏa công bắn Lôi-tiễn khiến lửa bốc cháy khắp nơi.

Chính lối công thành không giờ nhất định, không có phương pháp nhất định và cũng không dùng hiệu quân nào nhất định, làm cho Tô Giàm cùng tướng sĩ kinh hoảng, không biết đâu mà chống đỡ. Tô lâm tình trạng bị động, bất an, suốt ngày đêm không dám rời giáp trụ.

Hôm ấy như thường lệ, nguyên-soái Thường-Kiệt, quân-sư Tôn Đản hội các tướng lại nghị kế.

Công-chúa Thiên-Ninh lên tiếng trước:

– Thưa sư thúc, thưa nguyên-soái, sau năm lần dùng đại nỏ đánh hỏa công, thì nhà cửa trong thành không còn được một nửa. Nếu ta cứ tiếp tục bắn như vậy năm lần nữa, thì trong thành không còn ngôi nhà nào. Dĩ nhiên bấy giờ ta chiếm được thành. Nhưng... nhưng... dân chúng chết nhiều quá.

Tôn Đản cũng nói:

– Mấy đêm nã Lôi-tiễn, tôi lên đài tre nhìn vào thành, thấy dân chúng chết cháy, xác xếp thành mấy đống cao, trông thực thương tâm.

Thường-Kiệt hỏi chư tướng:

– Bà chúa kho tuyên chỉ, sư-thúc dạy như vậy, các vị nghĩ sao?

Đô-thống Mai Cầm phát biểu:

– Chiến tranh là như vậy! Gươm đao, cung tên vốn vô tình. Hiện không có binh pháp nào để tránh cái chết cho dân chúng được cả. Ta đành chấp nhận. Công-chúa là bà chúa kho, công chúa nhân từ là phải. Bọn thần biết làm sao bây giờ?

Trần Ngọc-Liên tiếp lời Mai Cầm:

– Công chúa ơi! Bọn thần là tướng cầm quân, bọn thần thương quân như chân tay. Nếu bây giờ không dùng hỏa công đánh thành, mà dùng lối leo thang vào thì quân chết nhiều lắm. Bọn thần trộm nghĩ: Thà dân Tống chết, chứ không thể nhìn quân mình chết.

Trong khi Ngọc-Liên phát biểu, thì ông bà Tôn Đản ôm trán, trầm tư không nói, không rằng.

Đô-thống Dương Minh tiếp:

– Công chúa thương dân Tống, nhưng quan Tống lại không thương dân họ thì bọn thần chả tội gì mà phí mạng quân mình. Bằng cớ là ta đã bắn thơ vào, yêu cầu Tô Giàm cho dân ra khỏi thành. Nhưng Tô lại giữ dân làm bùa hộ mạng. Như vậy rõ ràng Tô biết ta trọng nhân nghĩa, nên lấy dân làm cái mộc che thân. Nếu ta thương dân Tống, không bắn hỏa pháo vào nữa là mắc mưu y.

Công-chúa Thiên-Ninh thấy các tướng trẻ không nghe lời mình, nàng đưa mắt nhìn Trần Ngọc-Hương để cầu cứu. Bởi Ngọc-Hương được các bạn đặt cho ngoại hiệu là bà đồ, vì nàng học Nho rất uyên thâm, lại hay phản đối chiến tranh. Ngọc-Hương cung tay:

– Khải điện hạ, trước đây thần đã đọc Chiến-quốc sách nói về việc dùng nhân nghĩa trong chiến tranh. Nay xin đọc để điện hạ tường.

Nói rồi nàng rút trong bọc ra bộ sách đọc.

« Tống Tương-công chiến ư Giang-ngạn. (Tống Tương-công đánh nhau ở bờ sông Trường-giang).

Châu... vương năm thứ... mùa Xuân tháng hai, Tống Tương-công đem binh đánh Sở, dàn quân ở bờ bắc sông Trường-giang chờ giặc. Giữa lúc quân Sở đang dùng thuyền qua sông, chư tướng khuyên: Sở đang độ giang, nhân lúc quân chúng chưa sang hết, ta đánh, tất thắng. Tương-công không bằng lòng đáp: Ta ra quân nhân nghĩa, mà nhân lúc người chưa qua hết đã đánh, thì còn là nhân nghĩa được không? Rồi không nghe lời. Lát sau, quân Sở qua sông, đang bầy trận, hàng ngũ lộn xộn. Chư tướng khuyên: Nên nhân lúc chúng mới qua sông, quân còn say sóng, hàng ngũ chưa thành. Ta đánh chắc thắng. Tương-công mắng: Ta mang quân nhân nghĩa đi đánh bọn Sở bất nghĩa, mà nhân lúc chúng mệt mỏi, lại thúc quân đánh, thì còn gì nhânnghĩa nữa? Rồi không nghe lời chư tướng. Kịp đến khi quân Sở chỉnh đốn trận thế, hai bên giáp chiến, Tương-công bị bại. Hóa cho nên sau này tục ngữ có câu "Ngu như người nước Tống" ».

Tôn Đản, Thường-Kiệt thấy từ xưa đến giờ mỗi khi công chúa Thiên-Ninh nói gì là đám Long-biên ngũ hùng, Tây-hồ thất kiệt luôn tuân chỉ răm rắp. Nhưng nay rõ ràng Thiên-Ninh đưa ra đề nghị hợp lý, mà chúng thẳng tay bác bỏ đã đành; mà đến ngay Ngọc-Hương mà cũng mang sách ra bác lời công-chúa nữa. Ông hiểu ngay rằng chúng đã trưởng thành, lại có ý-thức rõ ràng. Hai người chưa biết giải quyết sao, thì thân binh bưng vào một cái hộp trình:

– Thưa nguyên-soái, có ba nhà sư đến xin yết kiến nguyên soái, tiểu nhân hỏi pháp danh, cùng mục đích, thì hai nhà sư đưa ra cái hộp rồi nói: Hai bần tăng là sứ giả của chủ nhân cái hộp này xin cầu kiến.

Thường-Kiệt mở hộp ra, thì thấy trong hộp có cái đùi chó luộc, đã lóc hết thịt, cạnh đó còn có cành hoa sen. Cử tọa cùng bật lên tiếng oà vì biết đó là biểu hiệu của Viên-Chiếu và Mộc-tồn hòa thượng.

Tôn Đản, Thường-Kiệt vội đứng dậy ra đón khách, thì ra là ba sư Đạo-Hạnh, Minh-Không và Pháp-Nhẫn. Tây-hồ thất kiệt thấy Minh-Không, vội vàng hô cả bẩy bà vợ cùng thụp xuống đất hành lễ với ngài:

– A-di-Đà Phật, chúng đệ tử xin tham kiến sư phụ.

Minh-Không cười:

– Các con không nên đa lễ. Thầy có việc nhờ đến các con đây.

Trà nước, phân ngôi chủ khách xong, Tôn Đản hỏi:

– Không biết ba đại sư quang lâm có điều chi dạy bảo?

Đại sư Pháp-Nhẫn quỳ mọp xuống chắp tay hướng Thường-Kiệt, Tôn Đản và chư tướng. Tôn Đản vội đỡ ông dậy. Pháp-Nhẫn nói:

– Vì tham vọng, Hy-Ninh đế, Vương An-Thạch gây hấn với Đại-Việt, nên Đại-Việt phải ra quân trước hầu tự vệ. Bần tăng muôn ngàn lần không dám nói gì. Nhưng thưa nguyên soái, trong mấy lần công thành vừa qua, dân thành Ung chết oan nhiều quá, nên bần tăng phải tìm hai vị bồ tát Viên-Chiếu, Mộc-tồn để nhờ hai vị giúp cho bần tăng được diện kiến nguyên soái, xin nguyên soái tha mạng cho đám dân vô tội.

Trần Ngọc-Hương chắp tay:

– Bạch đại sư, bọn đệ tử đều là con nhà Phật, cho nên phải giữ ngũ giới. Nhưng đại sư ơi! Ung-châu là lỵ sở của cuộc xâm lăng Đại-Việt, bọn đệ tử không thể không phá. Sự bất đắc dĩ mấy ngày qua, bọn đệ tử phải dùng hỏa công đánh thành, làm dân chúng chết oan, điều này chúng đệ tử đều cảm thấy bất nhẫn vô cùng. Cũng vì thương dân nên nguyên soái đã bắn thư vào khuyên Tô Giàm cho dân chúng ra khỏi thành. Tô không những không nghe, mà lại giữ dân làm con tin. Vậy đại sư dạy cho bọn đệ tử phải làm sao bây giờ?

Ghi chú về di tích ngài Đạo-Hạnh

Chùa Thiên-phúc, tiếng bình dân gọi là chùa Thầy. Tên cổ là Hương-hải hay viện Bồ-đà ở núi Sài-sơn. Núi này còn có tên khác như Thạch-thất, Phật-tích thuộc hai xã Thiên-phúc và Thụy-khuê, huyện Yên-sơn, phủ Quốc-oai, nay là xã Sài-sơn, huyện Quốc-oai, tỉnh Sơn-Tây. Chùa được kiến tạo vào tháng 12 niên hiệu Long-thụy Thái-bình thứ tư đời vua Lý Thánh-tông (1-1058).

Khi ngài Đạo-Hạnh vào hang chùa, xuất hồn đầu thai làm con Sùng-Hiền hầu, sau là vua Lý Thần-tông, xác trải biết bao năm tháng vẫn còn. Khi triều Minh bên Trung-quốc sai Trương Phụ đánh giặc Hồ Quý Ly (1407); y đốt xác ngài suốt ba ngày không cháy. Sang ngày thứ tư, đệ tử ngài khấn xin xác mới cháy, ngọc Xá-lợi được chia cho dân chúng.

Đời vua Lê Thánh-tông, ngài sai Thái-úy Trinh quốc công Nguyễn Đức-Trung trùng tu, tuy vậy vẫn giữ quy mô cũ. Vua có làm bài thơ:

Đề Sài-sơn tự

Ngẫu nhiên thừa hứng đáo nham tìm,

Ổn bộ vân cù thướng thản nhiên.

Điểu ngữ hoán nghênh tùng hạ khách,

Hoa dung tĩnh đối động trung tiên.

Túc siêu trần thế tam thiên giới,

Thủ trích tinh thần đệ nhất thiên,

Thí tảo thạch đài miêu thử cảnh,

Thi hành bút dĩ động sơn xuyên.

Bản dịch của Mai Xuân Hải:

Đề chùa Sài-sơn

Bỗng nhiên cao hứng tới non chơi,

Bằng phẳng đường mây bước thảnh thơi.

Đón khách rặng tùng chim chóc hót.

Chào tiên bên động cỏ hoa tươi.

Chân ngoài trần giới ba nghìn cõi.

Tay hai trăng sao một lớp trời.

Vội quét vách rêu đề cảnh đẹp,

Bút thơ rung động núi sông rồi.

Niên hiệu Đại-chính thứ 9 (1538) thời giặc Mạc Đăng Doanh, Chiêu-nghi (một bậc của phi tần) Nguyễn-thị Ngọc-Phương đứng ra tu sửa thủy các, xây hồ sen.

Thời Lê Trung-Hưng các vua Lê, chúa Trịnh thường viếng, lễ chùa. Định-vương Trịnh Căn (1682-1709) vịnh chùa:

Phật-tích sơn tự thi

Càn khôn vẹn thiểu một bầu đông,

Này này siêu nhiên chỉn lạ lùng.

Hương vũ trăng thiền soi vằng vặc,

Vân song tiếng ngọc nặng boong boong.

Trì thanh leo lẻo ngư long hội,

Non nhiều trùng trùng cầm tú phong.

Luận thế giới này giai cảnh ấy,

Có bề quẩng đại, có linh thông.

Độc giả muốn thâm cứu chùa Thiên-phúc, có thể tìm đọc các sách chữ Hán sau:

– ĐVSKTT, BK 2a.

– Sơn-tây tỉnh chí.

– Sơn-tây chí.

– Hoàng Việt địa dư chí.

– Bắc-thành địa dư chí lục.

– ĐNNTC.

– Đồng-Khánh địa dư chí lược.

– Châu cơ thăng thưởng.

– Ngự đề thiên hòa doanh bách vịnh.

– A-di-Đà Phật! Tội quá! Tội quá! Không biết Lý phu nhân có thể tìm cách khác mà công thành không?

Ngọc-Liên trả lời bằng cái lắc đầu. Phương-Lý cung tay:

– Thôi thì thế này vậy, bọn hậu bối xin lùi quân mười dặm, để đại sư vào thành khuyên Tô Giàm cho dân ra ngoài; không biết đại-sư nghĩ sao?

– Bần tăng xin tuân lời Trần phu nhân.

Thế rồi Trần Di lại bắn tên mang thư vào thành. Trong thư đại ý nói: Quân Việt lùi ra xa mười dặm, để đại sư Pháp-Nhẫn, thủ tọa Đạt-ma đường chùa Thiếu-lâm vào thành cứu dân chúng.

Đại-sư Pháp-Nhẫn vào thành đã hai ngày, mà không có tin tức gì, quân Việt lại tiếp tục công thành, nhưng không bắn hỏa pháo vào nữa.

Bấy giờ Tô Giàm mới thực sự thấy cái nguy kề cổ. Nguyên lúc đầu, theo ước tính của Lưu Di, Tô Giàm thì quân Việt có mười hai hiệu Thiên-tử binh, khoảng mười hai vạn người. Với quân số đó, sau khi đánh chiếm mười tám ải, với các châu Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch thì phải dàn người trấn thủ; giỏi lắm chỉ có thể đem khoảng ba vạn công Ung-châu, làm sao thắng nổi sáu vạn binh với bốn vạn dân binh? Vì vậy Lưu Di, Tô Giàm không đặt vấn đề đem quân từ Quế-châu xuống tiếp viện. Lưu, Tô nào ngờ Tôn Đản dùng hoàng nam Bắc-biên trấn mười tám ải, còn Tín-Nghĩa vương dùng hàng binh Tống, thành lập đạo binh Lĩnh-Nam đánh Khâm, Liêm, đánh Dung, Nghi, Bạch và trấn thủ tại đây. Còn mười hai hiệu Thiên-tử binh công hãm Ung-châu.

Giữa lúc quân Việt mới công phá thành Ung, thì con trai của Tô Giàm là Tô Tử-Nguyên làm quan ở Quế-châu dẫn vợ con tới thăm cha, bị kẹt trong vòng vây. Nhờ một lần hưu chiến, Tử-Nguyên từ biệt cha, đem vợ con đi. Nhưng Giàm chỉ cho mình Tử-Nguyên đi mà thôi, vì sợ dân chúng tưởng Giàm đem con cháu bỏ chạy. Trước khi Tử-Nguyên đi, Giàm dặn con:

– Rời thành, con lấy ngựa phi thượng khẩn về Quế-châu báo cáo quân tình cho An-vũ kinh lược sứ Lưu Di, để xin người đem đạo quân đệ 1, 2, 3 với đạo kị-binh 47 vượt Đại-giáp sơn, Hỏa-giáp sơn xuống cứu viện. Vì với bốn vạn quân đó, đánh từ ngoài vào, cha đem sáu vạn người từ trong đánh ra, tuy không thắng nổi quân Việt, nhưng cũng giải được vòng vây. Bấy giờ hoặc quân Việt lâu ngày chán nản rút lui; hoặc quân Kinh, Hồ xuống cứu thì đuổi được chúng.

Ghi chú,

TS. quyển 446, TTTTGTB Hy-Ninh thứ 8 chép việc Giàm cho Tử-Nguyên ra khỏi thành, mà không chép rõ y đi đâu. Lại nữa trận đánh viện binh kinh thiên động địa của quân Việt, các sách chép không giống nhau. TS chép diễn ra ở núi Đại-giáp, còn TTTTGTB lại chép là núi Hỏa-giáp. Trong khi QTNC, TTCTGCK lại chép rõ rằng Giàm viết thư sai con đem về Quế-châu cầu cứu với Lưu Di, và trận đánh diễn ra ở suối Ngọc-tuyền.

Vì những bất đồng này và cũng để có thể mô tả trận đánh chi tiết hơn; hè năm 1990, tôi lấy máy bay đi Bắc-kinh, rồi đổi máy bay ở Bắc-kinh đi Liễu-châu (thủ-phủ của Quảng-Tây) sau đó thuê xe xuống Nam-ninh (Ung-châu cũ). Cuối cùng đi ngược đường lên phía Bắc tìm di tích trận đánh ở núi Giáp. Thực tế đã mở mắt cho tôi thấy rõ: Nơi xẩy ra trận đánh có hai ngọn núi song song nhau nằm theo chiều Đông-Tây. Ngọn ở phía Bắc mang tên Đại-giáp, ngọn ở phía Nam mang tên Hỏa-giáp. Giữa hai ngọn Giáp là một thung lũng khá rộng, có suối Ngọc-tuyền chảy theo chiều Tây về Đông. Như vậy địa danh xẩy ra trận đánh mang tên Hỏa-giáp, Đại-giáp, hay Ngọc-tuyền đều đúng cả.

Tử-Nguyên đem theo bốn kị binh hộ tống, khóc từ biệt cha, phi ngựa bất kể ngày đêm về Quế-châu xin yết kiến Lưu Di, trình bầy quân tình. Trong đoàn bốn kị binh, có một người tách ra khỏi đoàn, bị Thiên-tử-binh thuộc hiệu Vạn-tiệp của Tạ Duy bắt được, giao cho Phương-Quế. Phương-Quế sai cởi trói, đem rượu thịt giải về cho y ăn, rồi hỏi:

– Tại sao người không đi theo Tô Tử-Nguyên, mà lại tách ra?

Người lính đó quỳ mọp xuống khóc, rồi nói:

– Thưa phu nhân, đại-sư Pháp-Nhẫn vào thành thuyết phục Tô Giàm cho dân chúng, vợ con tướng sĩ ra ngoài để khỏi chết oan. Đại sư hứa rằng quân Việt sẽ không đụng đến những người dân vô tội này. Tô Giàm giả thuận theo ý của đại sư. Y sai làm cơm chay cúng dàng, rồi bỏ thuốc độc vào thức ăn. Đại sư vô tình ăn phải, ngã ra mê man. Bấy giờ Tô mới sai trói đại sư lại rồi kết tội là gian tế cho Đại-Việt, mục đích đem gia đình tướng sĩ ra ngoài cho quân Việt bắt làm con tin, hầu đòi đầu hàng. Đêm, đại sư vận công phá gông, rồi bỏ đi đâu, không ai biết.

Phương-Quế giải tên kỵ binh ấy đến dinh Thường-Kiệt, Tôn Đản. Sau khi cật vấn viên kị binh, biết chắc rằng y không có gì giả dối, Thường-Kiệt truyền tha cho y.

Phạm Dật nói với công chúa Thiên-Ninh:

– Công chúa! Chúng ta đã làm hết sức, nay Tô không thương dân Tô, thì việc gì ta phải thương dân của y?

Giữa lúc đó, thân binh vào báo:

– Có Trung-Thành vương đem theo một đội cung-thủ Long-biên lên tiếp ứng.

Tôn Đản, Thường-Kiệt, Thiên-Ninh vội vàng ra đón.

Lễ tất.

Mọi người vào trướng. Phạm Dật trình bầy tình hình từ khi quân Việt vượt biên đến giờ. Trung-Thành vương nói với Tôn Đản, Thường-Kiệt:

– Tin tế-tác của ta từ Biện-kinh báo về cho biết, Tống đang chuyển binh từ Bắc, Tây về Nam định đánh lớn. Vì vậy Thái-hậu truyền đệ tử lên tiếp viện cho sư thúc với sư-huynh. Ta phải giải quyết cho mau, rồi rút về giữ nhà.

Thường-Kiệt trình bầy về việc công thành. Trung-Thành vương ra lệnh cho Phạm Dật:

– Ngày mai ta sẽ xem các đệ công thành, rồi mới có ý kiến.

Hôm sau quân Việt tiếp tục công thành như trước.

Bây giờ nói chuyện Lưu Di ở thành Quế-châu.

Từ khi được cử xuống trấn nhậm Nam-thùy, bao nhiêu tâm huyết của Lưu đặt cả vào mười tám ải biên phòng, hy vọng khi Tống triều cử người đánh Đại-Việt, y sẽ được lĩnh ấn nguyên nhung. Sau khi thắng Đại-Việt, thì cái tước công không thể rời khỏi tầm tay. Nay quân Việt đánh như sét nổ, mười tám ải mất quá dễ dàng, rồi Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch thất thủ. Y bàng hoàng cả người, nên muốn lưu ba đạo binh triều với đạo kị binh để thủ thân, thì đời nào y cho đem đi cứu viện thành Ung? Nhưng trước sự khẩn khoản của Tử-Nguyên, y đành sai viên Đô-giám tuần kiểm Quảng-Tây Nam-lộ Trương Thủ-Tiết, đem ba đạo binh đệ 1, 2, 3, cùng đạo kị-binh 47 cứu viện.

Trương Thủ-Tiết là một tướng giỏi việc quân, xuất thân tiến-sĩ, nhưng võ công bình thường. Nghe nói quân Việt cực kỳ thiện chiến, lại đông gấp bốn, năm quân mình, nên y cho quân đi mỗi ngày năm mươi dặm (25 km ngày nay), với ý nghĩ rằng chờ cho quân Việt với quân Ung đều mệt mỏi, y mới nhập cuộc.

Tại thành Ung, Tử-Nguyên đi rồi, quân Việt lại dùng hỏa công đánh cầm chừng suốt ba ngày 27, 28, 29 tháng chạp (Ghi chú: Vẫn là năm Ất-Mão 1075). Lần này quân đô thống Ngô Ức có sáng kiến chỉ cho đánh hai cửa thành. Còn hai cửa thì bỏ trống cho quân Tống trốn ra. Tô Giàm thấy rằng sau khi bị đánh hỏa công, lương thảo chày mất hơn nửa. Số lương còn lại, không đủ nuôi quân trong vòng một tháng. Y vội viết thư, rồi sai bọc sáp cho khỏi ướt, đem nhét vào âm hộ một con ngựa; nhân lúc quân Việt hưu chiến trong dịp tết Nguyên-đán, y sai người phi ngựa đưa cho viên Đề-điểm hình ngục Quế-châu Tống Cầu, để Cầu thúc Lưu Di dùm.

Khi Cầu nhận được thư, thì Trương Thủ-Tiết đã lên đường đang đóng ở ải Côn-lôn, nằm giữa đường Ung-châu đi Tân-châu. Cầu đuổi theo kịp, khóc xin Thủ-Tiết cứu viện khẩn cấp. Hôm ấy là ngày mùng một tết. Thủ-Tiết đành họp các tướng dưới quyền là Đề-cử Tả-Giang Ôn Nguyên-Dụ chỉ huy đạo binh đệ nhất; Đô-giám Hồ-Nam là Trương Biện chỉ huy đạo binh số đệ nhị; tuần kiểm hai châu Ung, Tân là Hứa Dự chỉ huy đạo binh đệ tam; tuần kiểm ba châu Liễu, Tượng, Tân là Vương Trấn chỉ huy đạo kị binh thứ 47. Ngoài ra còn có tham-tướng Triệu Tú coi về Tế tác Quảng-Nam Tây-lộ Các tướng đồng ý để cho quân ăn tết ba ngày, sang ngày 4 tháng giêng là ngày Tân-Dậu, năm Bính-Thìn (DL. 11-02-1076) thì xuất quân.

Ghi chú,

Xét quan chế Tống triều, thì Lưu Di làm Kinh-lược An-vũ sứ, tương đương với ngày nay:

– Thời Pháp thuộc là Thống-sứ (Pháp) hay Kinh-lược-sứ (Việt).

– Thời Việt Nam Cộng-hòa là Đại-biểu chính phủ miền.

– Hiện trong nước không có chức vụ tương đương.

– Dưới Di còn có viên Chuyển-vận sứ,tương đương với ngày nay là Phó đại biểu hành chánh miền.

Đô-giám tuần kiểm Quảng-Tây Nam-lộ tức chỉ huy quân sự vùng này. Ngày nay bao gồm lãnh thổ Quảng-Đông, Quảng-Tây, Hồ-Nam và Quý-châu, tương đương với lãnh thổ hai Quân-khu. Ta cứ coi như là Tư-lệnh Quân-lực liên Quân-khu Nam-thùy. Trương Thủ-Tiết giữ chức này.

Đề-cử Tả-giang, tương đương với ngày nay là Tư-lệnh Quan-khu Tả-giang. Ôn Nguyên-Dụ giữ chức này.

Đô-giám Hồ-Nam,tương đương với ngày nay là Tư-lệnh Biệt-khu Hồ-Nam hay Chỉ-huy trưởng bộ chỉ huy Chiến-khu Hồ-Nam.

Tuần-kiểm, tương đương với ngày nay là Chỉ-huy trưởng bộ chỉ huy Quân-sự tỉnh hay Tiểu-khu trưởng Tiểu-khu

Đạo-binh tương đương với một Sư-đoàn.

Với bốn vạn người ngựa ăn tết ở giữa vùng đông dân như vậy, tin tức lọt ra rất mau, Tế-tác Đại-Việt thu được, trình cho Đinh Hoàng-Nghi, Vũ-Quang biết. Hai người vội sai chim ưng báo cho đại bản doanh của nguyến-soái Thường-Kiệt, Tôn Đản. Sau khi hội ý wới nhau, Thường-Kiệt cho gọi Phạm Dật, Lý Đoan, Trần Ninh tới, ban lệnh:

– Đúng như chúng ta ước đoán, Lưu Di đem ba Đạo quân đệ 1, 2, 3 và đạo kị 47 tiếp ứng Ung-châu. Trước đây ta đã cho Vũ Quang, Đinh Hoàng-Nghi đem cản bộ binh mã phục ở núi Đại-giáp gần Côn-lôn. Nhưng với hai hiệu Thiên-tử binh, không thể thắng bốn vạn quân Tống. Vậy ba Đô-thống hãy đem bản bộ quân mã lên hợp với Quang, Nghi diệt đám viện binh này. Có điều ta lo lắng là võ công bọn Ôn Nguyên Dụ, Trương Biện, Hứa Dự, Vương Trấn rất cao cưởng, đang ở tuổi bốn mươi, công lực mạnh vô cùng. Long-biên ngũ hùng không phải là đối thủ của chúng. Vậy phải dùng mưu mà trừ chúng.

Trần Ninh hỏi:

– Xin nguyên soái cho biết trong năm đứa chúng tôi, ai là chúa tướng?

Thường-Kiệt trầm tư suy nghĩ rồi nói với Tôn Đản:

– Xin sư thúc chỉ định cho.

Tốn Đản chỉ Trung-Thành vương:

– Năm Đô-thống cùng năm phu nhân tuy tài ba, nhưng không ai hơn ai, thực khó vô cùng. Nguyên soái nên để cho vương-gia tổng chỉ huy là hơn cả.

Trung-Thành vương đứng dậy:

– Xin tuân lệnh sư thúc và đại-ca.

Vừa lúc đó, thì Thần-vũ thập anh phi ngựa về tới. Thường-Kiệt hỏi:

– Thế nào, các sư đệ, sư-muội theo nhị vị sư thúc, sư thẩm về Biện-kinh, đã làm được những gì?

Hùng Nhân cười vui vẻ thuật lại vụ vua bà Bình-Dương, phò-mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương Lê Văn, công-chúa Nong-Nụt cùng Thần-vũ thập anh phá nóc Điện Sùng-chính đại náo Tống triều. U-bon vương còn dùng thuốc làm cho Lý Hiến ngứa ngáy khốn khổ; rồi Âu Hoàng, Âu Huyền trêu ghẹo, làm cho y phát điên phát khùng.

Trung-Thành vương bảo Thần-vũ thập anh:

– Các vị sư-huynh, sư-tỷ về đúng lúc. Hiện chúng tôi đang cần những cao thủ bậc nhất để chặn viện quân từ Quế-châu xuống. Không biết các vị có thể lên đường được ngay khống?

Âu Hoàng vui vẻ:

– Đa tạ vương gia đã tin dùng.

Ngay chiều hôm đó, Trung-Thành vương dẫn Thần-vũ thập anh, bọn Dật, Đoan, Ninh cùng bản bộ quân mã lên đường. Tất cả đoàn quân tới núi Đại-giáp chiều ngày 3 tháng giêng. Vương được Đinh Hoàng-Nghi, Phạm Dật dẫn đi quan sát địa thế. Ngay đêm hôm đó, vương cho họp chư tướng để ban lệnh.

Vương thăng trướng, rồi giảng giải:

– Trương Thủ-Tiết đem quân từ Côn-lôn xuống Ung phải qua hai ngọn núi Đại-giáp và Hỏa-giáp. Hai ngọn Giáp nằm song song theo hướng Đông-Tây. Tính từ Bắc xuống Nam là ngọn Đại-giáp rồi tới ngọn Hỏa-giáp. Giữa hai ngọn là một thung lũng nhỏ tên Ngọc-tuyền, dân cư thưa thớt, sống quanh ngọn suối này. Theo binh pháp của Tống, khi di chuyển sẽ cho bộ binh đi trước, kị binh đi sau, rồi tới lương bổng. Hai ngọn Giáp có con đường tắt, vậy Phạm Dật Kim-Loan được tăng viện Hùng Nhân, Âu Hoàng đem hiệu Ngự-long đi theo con đường này ém quân chờ sẵn. Đợi khi toàn quân của chúng đã lên đường hết, thì đem quân đánh úp trại lương. Sau khi đánh xong đoàn vận lương, thì đốt cỏ lên để làm nát lòng quân giặc.

Bốn người lĩnh mệnh đi ngay.

– Đường từ Côn-lốn đến núi Đại-giáp ít ra là bốn mươi dặm. Quân Thủ-Tiết khởi hành sớm thì buổi chiều mới vượt qua núi Đại-giáp. Y sẽ dừng quân lại thung lũng Ngọc-tuyền nấu ăn, và qua đêm. Lý Đoan, Ngọc-Liên được tăng viện Hùng Nghĩa, Âu Thanh đem hiệu Bổng-nhật phục ở trên đỉnh ngọn Đại-giáp. Trần-Ninh Ngọc-Hương được tăng viện Hùng-Lễ Âu-Huyền đem hiệu Đằng-hải phục trên đỉnh ngọn Hỏa-giáp. Hai đạo chờ cho quân Thủ-Tiết nghỉ ngơi nấu cơm chiều, sắp sửa ăn, thì phát pháo reo hò, treo cờ khắp núi, nhưng không được đổ xuống đánh. Mục đích của hai hiệu Bổng-nhật, Đằng-hải là đóng chặn làm cho giặc tiến không được, mà lùi cũng không xong. Như vậy chỉ trong vòng hai ngày, người ngựa đói lả, ta sẽ bắt chúng như bắt ốc trên bãi biển.

Tám người lĩnh mệnh.

Vương quay lại nói với Vũ Quang, Kim-Liên, Đinh Hoàng-Nghi Phương-Quỳnh, Hùng Trí, Âu Lam, Hùng Tín, Âu-Hồng:

– Các sư huynh, sư tỷ cùng các em với ta sẽ làm nhiệm vụ đặc biệt.

Hôm ấy là ngày Tân-Dậu, 4 tháng Giêng năm Bính-Thìn, niên hiệu Thái-Ninh thứ năm đời vua Nhân-tông Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ chín đời vua Thần-tông nhà Tống(DL. 11-02-1076).

Đô-giám tuần kiểm Trương Thủ-Tiết cho quân lên đường cứu Ung-châu thực sớm. Quân chia làm ba cánh. Cánh đi đầu gồm đạo binh đệ nhất, do viên đề cử Tả-giang là Ôn Nguyên-Dụ chỉ huy. Cánh thứ hai là đạo binh đệ nhị do đô-giám Hồ-Nam chỉ huy. Trương Thủ-Tiết và các tướng tham mưu đi giữa hai đạo binh này. Cánh thứ ba, là đạo binh đệ tam, do tuần kiểm hai châu Ung,Tân là Hứa Dự chỉ huy đi với đạo kị binh 47 do tuần-kiểm hai châu Liễu, Tượng là Vương Trấn chỉ huy.

Đoàn quân rầm rộ lên đường. Đến khoảng giờ Tỵ thì toàn quân đã vượt qua núi Đại-giáp. Sang đầu giờ Ngọ thì quân đã vào thung lũng Ngọc-tuyền. Các tướng truyền cho quân đóng trại, nấu cơm ăn.

Từ tiền cổ, dù thời bình hay thời loạn, người Hoa, người Việt đều có lệ ăn tết từ ngày 23 tháng Chạp cho tới ngày rằm tháng giêng. Trong những ngày đó, hễ có dịp là người ta lại họp nhau đánh bạc. Vì vậy, tuy trên đường mang quân cứu viện, các tướng Tống cũng không quên cái thú đổ bác.

Trương Thủ-Tiết cho gọi các tướng tới doanh mình uống rượu, đánh bạc. Rượu ngà ngà say, tần-kiểm hai châu Liễu, Dự nói:

– Tất cả chúng ta đây đã từng vào sinh ra tử ở mặt trận Tây-hạ, nhờ lập công, mà được thăng quan tiến chức đổi về đây. Bây giờ đức vua nghe lời tên thư sinh mặt trắng Vương An-Thạch bầy ra cái gì là Thanh-miêu, Trợ-dịch, khiến cho dân chúng khốn khổ. Rồi triều đình lại sai tên Lưu-Di, một cái múa, một chiêu võ không biết xuống trấn Nam thùy. Y hung hăng gây chiến với Đại-Việt. Nay quân Đại-Việt kéo cao cờ nghĩa điếu dân phạt tội; chỉ một trận chiếm mười tám ải, năm châu Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch. Bây giờ đại quân lại vây thành Ung. Tên Lưu Di bắt chúng ta đem quân cứu viện. Các huynh nghĩ sao?

Đô-giám Hồ-Nam Trương Biện nổi cáu:

– Con bà nó chứ, tôi làm Đô-giám ở Hồ-Nam, đâu có thống thuộc tên Lưu Di? Y làm Kinh-lược an-phủ sứ Quảng-Nam lộ tôi đếch cần biết y là gì. Ngặt một điều, mới đây y được chiếu chỉ có toàn quyền trưng dụng binh tướng vùng Kinh, Hồ. Vì thế y bắt tôi dẫn quân đi cứu Ung. Tổ bà nó, giả như khi tôi vắng nhà, mà Hồ-Nam có sự thì sao đây?

Tham-tướng Triệu Tú bàn:

– Tôi nghĩ, chúng ta trung với chúa, nhưng đừng trở thành ngu trung. Tôi nghe quân Đại-Việt chỉ đánh thành Ung rồi rút. Nay thành Ung như ngọn đèn trước gió, chúng ta có cứu cũng không nổi. Chi bằng ta cứ tiến quân thực chậm, chờ đợi. Nếu Ung thất thủ, quân Đại-Việt rút đi là may. Còn như Ung vẫn chống trả được, ta đợi quân Việt mệt rồi mới tiến lên, thì may ra thắng được.

– Đúng thế. Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau đen đỏ một phen đã.

Bàn Tài-sửu bầy ra, Trương Thủ-Tiết làm cái. Sau bốn lần sóc, đến lần thứ năm, hầu như tất cả nhà con đều đặt bên Tài, Trương Thủ-Tiết hô lớn:

– Yêu cầu thu tay lại!

Y mở bát, thì ra Sửu. Y vừa thu bạc, thì tiếng pháo nổ liên hồi, rồi tiếng trống thúc vang dội, tiếng quân reo như sấm động vọng lại. Các tướng kinh hoàng, thế là sòng bạc tan. Trương Thủ-Tiết nhét bạc vào túi, mặc giáp trụ.

Đến đây quân vào báo:

– Trình tướng quân, chúng ta bị vây rồi. Quân Nam-man đóng trên đỉnh núi Đại-giáp, Hỏa-giáp đánh trống reo hò chặn mất đường tiến quân, lẫn đường lui quân.

– Cứ bình tĩnh.

Y ra lệnh:

– Tạm ngừng nấu cơm. Chuẩn bị tác chiến, nếu chúng đổ đồi. Đạo đệ tam thử cho quân thám thính xem tình hình quân Man ra sao.

Hứa Dự tuân lệnh lên đường. Lát sau y trở về báo tin:

– Không rõ quân Man bao nhiêu, chỉ thấy cờ xí treo khắp núi, quân reo, trống thúc mà thôi.

– Lệnh đóng trại, canh phòng thực cẩn thận.

Cho đến hết canh hai, vẫn không thấy quân Việt đổ đồi tấn công, Thủ-Tiết ra lệnh cho quân tiếp tục nấu cơm ăn, rồi đi ngủ, nhưng phải để nguyên giáp trụ trên người.

Quân sĩ vừa riu riu ngủ, thì có tiếng cọp gầm, tiếng quân reo, rồi lửa bốc cháy ở khu trại kị binh. Quân sĩ vội rời chỗ ngủ, cầm vũ khí chuẩn bị chiến đấu. Lát sau Vương Trấn trở lại báo:

– Trình tướng quân, bọn Nam-man không tiến công, chúng xua hơn hai trăm con hổ tràn vào khu chuồng ngựa, làm hơn nghìn ngựa vừa bị chết, vừa bị thương, hơn ba nghìn ngựa chạy tán loạn vào rừng. Vì trong đêm, sợ có phục binh, nên tiểu tướng không dám cho quân bắt về. Viên tướng chỉ huy còn rất trẻ, trên cờ hiệu có chữ « Đô-thống Đinh » và « Đại-Việt thiên tử binh Quảng-vũ ». Cạnh y còn một nữ tướng cực kỳ xinh đẹp.

Thủ-Tiết đưa mắt hỏi tham-tướng Triệu Tú. Tú đáp:

– Trình đô-giám, nếu kỳ hiệu như vậy thì y tên là Đinh Hoàng-Nghi, giữ chức Đô-thống, chỉ huy hiệu Quảng-vũ. Còn nữ tướng là vợ y tên Phương-Quỳnh. Võ công tên này bình thường, nhưng tài dụng binh của y thực hiếm người bằng.

– Thôi được, cho quân đi nghỉ, ngày mai sẽ liệu.

Đèn trong trại vừa tắt, trống điểm canh đánh ba tiếng, quân tướng mới chợp mắt, thì lại thấy tiếng la hét, tiếng quân reo, đèn đuốc đốt lên sáng rực. Quân sĩ vội dàn trận chuẩn bị chiến đấu. Nhưng không thấy động tĩnh gì khác. Lát sau Ôn Nguyên-Dụ lại báo:

– Trình tướng quân, không có quân Nam-man, mà chỉ có khoảng hai trăm con báo xông vào khu trại đạo đệ nhất, làm hơn nghìn người vừa chết vừa bị thương. Tướng chỉ huy đi dưới cờ có chữ « Đô-thống Vũ », và « Đại-Việt thiên tử binh Quảng-thánh ». Cạnh y cũng có một nữ tướng trẻ, rất xinh đẹp.

Trương Thủ-Tiết kinh hãi. Y chợt nhớ lại hồi theo quân đánh Tây-hạ, y được Kinh-Nam vương kể rằng, người Việt thường nuôi thú huấn luyện thành binh đội để dùng trong việc xung phong hãm trận. Y đưa mắt hỏi Triệu Tú. Tú đáp ngay:

– Trình Đô-giám như vậy đây là hiệu Thiên-tử-binh Quảng-thánh do đô-thống Vũ Quang chỉ huy, võ công y rất cao thâm. Còn vợ y tên Võ Kim-Liên.

– Thôi đi nghỉ.

Quân sĩ tắt đèn, vừa riu riu ngủ, thì lại có tiếng quân la hét, rồi tiếng chó tru. Quân sĩ lại phải thức dậy, đèn đuốc đốt lên sáng rực, chuẩn bị chiến đấu. Lát sau Trương Biện lại báo:

– Trình tướng quân, lại tên Đinh Hoàng-Nghi với vợ y, đem khoảng hai chục tên tiểu yêu xua đàn chó sói xông vào trại đạo đệ nhị, làm hơn nghìn người vừa chết vừa bị thương.

Trương Thủ-Tiết ra lệnh:

– Không ngủ nữa. Giữ nguyên đèn đuốc, đề phòng chúng xua thú tấn công.

Y nói với Vương Trấn:

– Lúc đầu chúng tấn công đạo kị binh, rồi tới đạo đệ nhất, đệ nhị. Bây giờ chắc tới đạo đệ tam. Vậy Vương tuần kiểm phải cẩn thận.

Nhưng từ sau khi bị sói tấn công cho đến lúc trời sáng, doanh trại Tống hoàn toàn yên tĩnh. Thủ-Tiết họp các tướng lại để nghị sự. Vương Trấn chửi thề:

– Con bà nó! Từ qua đến giờ, mình hao hơn ba nghìn ngựa, bốn nghìn người vừa chết, vừa bị thương, mà chưa được đánh một chiêu võ, bắn một mũi tên; cũng chưa thấy mặt một tên Nam-man nào.

Bỗng có tiếng trống thúc, tiếng quân reo, rồi quân vào báo:

– Có một đoàn quân đang kéo từ phía Đông tới, dàn ra trước trại khoảng ba dặm. Chúng cử một đôi nam nữ thanh niên cỡi voi tới trước trại xin được yết kiến tướng quân.

– Cho vào!

Thủ-Tiết dàn võ sĩ làm hai hàng, rồi y rút kiếm lệnh để lên án thư ngồi chờ. Lát sau, đôi nam nữ phong lưu tiêu sái khoan thai bước vào trại, cung tay hành lễ:

– Đô-thống lĩnh đạo Thiên-tử binh Quảng-vũ Đinh Hoàng-Nghi cùng vợ là Phương-Quỳnh xin tham kiến Trương đại nhân và quý vị tướng sĩ Đại-Tống.

Thủ-Tiết xuất thân tiến sĩ, nên y cũng có cái nét phong lưu. Y đáp lễ rồi mời Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh ngồi:

– Đô-thống tới đây có việc gì? Từ qua đến giờ các người không dám trực điện đánh với chúng ta, mà chỉ cho đội thú cắn trộm, như vậy thực không đáng mặt anh hùng?

Phương-Quỳnh cười đáp:

– Trương đại nhân nói sai rồi. Thứ nhất chúng tôi chỉ là hai thiếu niên thuộc tộc Việt, không bao giờ mơ ước thành anh hùng cả. Thứ nhì là thú của chúng tôi công khai tấn công, cắn trước mặt chứ đâu có cắn trộm?

– Các ngươi tới đây với mục đích gì? Ai sai các người tới đây?

– Chúng tôi tuân lệnh Trung-Thành vương, thống lĩnh mặt trận Đại-giáp này tới yết kiến Đô-giám, xin trả Đô-giám hơn trăm tù binh bắt được hôm qua. Chỉ có vậy mà thôi. Mời Đô-giám ra trước trại nhận người.

Trương Thủ-Tiết cùng các tướng ra trước trại. Đinh Hoàng-Nghi cầm tù và rúc lên, trận Việt tách ra làm hai, rồi một toán tù binh Tống được đưa đến trước trại. Thủ-Tiết nhận ra đó là viên lữ trưởng Tô An cùng đám binh sĩ trong đoàn vận tải lương thực. Không giữ được bình tĩnh, Thủ-Tiết lên tiếng hỏi:

– Tô An, tại sao các người ở đây?

– Trương đại nhân ơi! Hôm qua, lúc Trương đại nhân lên đường rồi thì quân Việt ập tới đánh chiếm hết đoàn xe vận lương. Chỉ hơn một khắc, toàn thể lữ vận lương bị bắt, bị giết hết. Quân Việt rất tử tế, họ băng bó vết thương cho chúng tôi, rồi đem trả về với đại nhân.

Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh cung tay:

– Xin cáo từ Đô-giám, hậu hội hữu kỳ.

Thủ-Tiết nghĩ thầm:

– Chúng đem người đến trả cho ta chỉ với mục đích làm nản lòng quân mà thôi. Ta hãy bắt hai đứa này khiền cho một trận, thì mới biết rõ tình hình quân Nam-man.

Nghĩ vậy, y đưa mắt cho Vương Trấn, Hứa Dự. Hai tướng tung mình lên chụp Hoàng-Nghi với Phương-Quỳnh. Nhưng Nghi, Quỳnh vẫn thản nhiên như không biết bị tập kích, khoan thai đi. Thình lình hai bóng hồng từ hai bên vọt người tới vung chưởng tấn công Vương, Hứa. Chưởng chưa ra hết, mà hai người đã cảm thấy ngộp thở. Cả hai vội biến trảo thành chưởng đỡ. Bình, bình. Cả bốn người đều bật lui. Bấy giờ Vương, Hứa mới để ý đến đối thủ: Đó là đôi nam nữ, nam thì hùng vĩ khôi ngô, nữ thì yểu điệu sắc nước hương trời.

Cả hai cung tay:

– Hùng Tín, Âu Hồng tham kiến Vương, Hứa đại nhân. Mong nhị vị thứ lỗi cho cái tội vô phép này.

Nói rồi hai người hú lên một tiếng dài, một đôi cọp từ trong bụi cỏ phóng tới. Hùng, Âu khoan thai lên lưng cọp, phơi phới mà đi.

Hứa Dự chửi thề:

– Mẹ cha bọn gái Việt, chúng đẹp thực, mà cũng đáng sợ thực. Hèn chi xưa kia Ngô Phù-Sai mất nước vì Tây-Thi. Phải chi bắt được một đứa, đem về ôm vài đêm, rồi có chết cũng cam lòng.

Sau khi đối chưởng với hai thiếu niên Việt, Vương Trấn, Hứa Dự cảm thấy khí huyết đảo lộn cực kỳ khó chịu. Hai người vội ngồi xuống điều khí. Được ba tức, cả hai kinh hãi khi thấy bàn tay sưng vù đỏ như máu, rồi như có con dao đâm vào ngực đau đớn đến không chịu nổi. Hai người cùng bât lên tiếng Ái rồi lăn lộn, trong khi chân tay dẫy tê tê.

Chư tướng kinh hãi la lên:

– Chư-sa huyền âm chưởng.

Thủ-Tiết xuất trận phen này đặt hết tin tưởng vào võ công bọn Vương, Hứa, Ôn, Trương. Nhưng chỉ mới xuất chiêu lần đầu, mà hai người không thắng nổi đôi thiếu niên Đại-Việt, thì còn mong mỏi gì nữa? Y hỏi Vương Trấn, Hứa Dự:

– Các vị thấy thế nào?

– Võ công đôi nam nữ vừa rồi thực kỳ lạ. Nam ra chiêu Lôi-đả Ân tặc của phái Sài-sơn, nữ ra chiêu Phong-đáo sơn đau của phái Đông-a. Cả hai chiêu đều thuộc chính phái của Đại-Việt, nhưng nội công có đôi phần giống nội công Huyền-âm của phái Trường-bạch ở Liêu-Đông, lại phảng phất giống Hồng-thiết công của Hồng-thiết giáo.

Ôn Nguyên-Dụ than:

– Vua Thái-tổ triều Lý bên Đại-Việt xuất thân từ Thiền-môn, nên cực kỳ bài bác tà ma, tại sao trong quân Vệt lại có người xử dụng võ công Hồng-thiết giáo?

Sau hai giờ bị đau đớn hành hạ, Hứa, Vương trở lại bình thường. Thủ-Tiết họp các tướng lại nghị sự. Hứa Dự bàn:

– Phía trước tiến lên thì không nổi, phía sau rút về cũng không xong. Đóng ở đây, thì chiều nay quân sĩ hết lương thực, e ngày mai không chết trận mà chết đói hết. Bây giờ chỉ có cách đánh liều mạng phá vòng vây trở về Côn-lôn, rồi tính sau.

Thủ-Tiết đồng ý, y truyền cho Ôn Nguyên-Dụ mang đạo đệ nhất leo núi Đại-giáp mở vòng vây. Tiếp theo Trương Biện mang đạo đệ nhị, Hứa Dụ mang đạo đệ tam tiếp ứng. Đạo kị binh đi sau cùng.

Nguyên-Dụ trở về cho quân dàn trận, rồi tiến đến chân núi Đại-giáp.

Đường từ chân núi lên đỉnh khoảng sáu dậm (3 km), nhưng hẹp và dốc, nên quân chỉ có thể di chuyển theo đội hình dọc, mỗi hàng từ ba tới năm người. Tốt đầu tiên lên đến lưng chừng núi, thì một tiếng nổ rung động không gian, rồi một trái cầu lửa chụp xuống đầu toán tiền sát. Trống thúc vang lừng. Quân Việt từ các hốc đá, từ sườn núi dùng cung tên bắn ra. Trọn vẹn hai tốt đi đầu bị giết trong khoảng một khắc. Bốn tốt đi sau vội lùi trở xuống. Quân Việt chỉ reo hò, mà không đuổi theo.

Tuy kinh hoàng, nhưng bị lâm thế cùng, Ôn Nguyên-Dụ cho quân để tất cả hành lý dưới chân núi, chỉ mang vũ khí nhẹ, rồi dàn ra len lỏi theo cây cối mà tiến lên. Khi vượt qua khoảng hai phần ba sườn núi quân sĩ mệt thở dốc, thì quân Đại-Việt lại thúc trống, rồi dùng máy bắn đá bắn ra, đội thần-tiễn Long-biên núp trong các hốc đá, nhắm từng người mà bắn tỉa.

Khác với lần trước, tên đều nhắm trán, ngực quân Tống, nên ai trúng tên là chết ngay tại chỗ. Lần này tên lại trúng mông, đùi, vai, làm cho binh Tống ngã xuống, rồi la hét, kêu khóc đồng đội cấp cứu.

Quân bị thương, bị chết mặc quân, Ôn cứ thúc tiến lên. Hai quân đã giáp với nhau, cuộc giao tranh giữa kẻ trấn thủ và người mở đường máu cầu sống diễn ra cực kỳ khốc liệt.

Lý Đoan đứng trên một tảng đá lớn trấn ở đỉnh cao nhất, nơi có con đường băng qua, tay cầm ngũ hành kỳ, tù và, pháo thăng thiên để chỉ huy. Cạnh Đoan là Hùng Nghĩa với đội võ-sĩ dàn ra bảo vệ chúa tướng.

Dưới sườn, Ngọc-Liên cầm kiếm đứng ngay tuyến đầu đốc chiến. Cách nàng không xa, Âu Thanh cũng cầm kiếm chỉ huy một tuyến phòng thủ.

Quân Tống đông như kiến, dẵm lên xác đồng đội để leo núi, rồi xông vào chém giết. Nhưng quân Việt nhất định không lùi giữ nguyên vị trí.

Ôn Nguyên-Dụ thoáng trông thấy Ngọc-Liên đang đứng chỉ huy quân. Y tung mình lên chụp nàng. Ngọc-Liên kinh hoảng, đưa kiếm vào ngực y. Nguyên-Dụ lách tay một cái đoạt được kiếm của nàng, rồi túm áo nàng quật vào tảng đá. Nhưng y cảm thấy ngộp thở, vì phía sau y, một thiếu phụ mặc quần áo trắng sắc nước hương trời đang đưa kiếm vào cổ y, kình lực kiếm phát ra vo vo. Kinh hoảng, y đưa Ngọc-Liên ra đỡ kiếm. Nhưng mũi kiếm lách sang phải, trúng cùi chỏ y. Đau quá y buông rơi Ngọc-Liên xuống, rồi lộn đi hai vòng, tránh ba chiêu kiếm của người áo trắng. Ôn với người áo trắng quay tròn đấu với nhau, bất phân thắng bại.

Tuy suýt chết, nhưng khi vừa đứng dậy, Ngọc-Liên vẫn bình tĩnh chạy dọc theo tuyến đầu chỉ huy. Bấy giờ nàng mới kịp nhận ra người áo trắng là Âu Thanh.

Cuộc giao tranh vẫn tiếp diễn khốc liệt. Quân Tống tuy đông gấp ba quân Việt, nhưng một là mất tinh thần, hai là leo núi mệt, ba là võ công không giỏi như quân Việt, nên cuộc chiến vẫn ngang ngửa.

Thình lình có tiếng tù và thổi một hơi dài. Ngọc-Li

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.

Bình luận truyện